Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

Các dân tộc Việt Nam
Khám phá văn hóa độc đáo của người Khơ Mú tại Tây Bắc Việt Nam. Trải nghiệm không gian văn hóa truyền thống sống động.
Người Khơ Mú sống ở các tỉnh dọc biên giới Việt - Lào như Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên. Họ là cư dân sinh sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy. Hiện nay hầu hết người Khơ Mú đã định canh định cư. Hãy cùng iGuide.ai tìm hiểu những thông tin về dân tộc Khơ Mú, Việt Nam nhé!
Về nguồn gốc tộc người Khơ Mú ở Việt Nam hiện vẫn còn tồn tại một số quan điểm khác nhau. Cho đến nay, phần lớn các nhà khoa học đều khẳng định người Khơ-mú là cư dân tại chỗ ở bán đảo Đông Dương, cư trú tập trung ở Bắc Lào với điểm quy tụ đông nhất là Luang Prabang và đã hình thành vương quốc có tên là Swa hay Lawa.
Sau khi người Lào di cư xuống cùng với các cuộc viễn chinh và người từ Vân Nam (Trung Quốc) tràn xuống đã buộc người Khơ Mú phải di cư sang Thái Lan và Tây Bắc Việt Nam. Một số ý kiến khác cho rằng người Khơ Mú là cư dân tại chỗ tại vùng Tây Bắc (Việt Nam), dựa trên câu chuyện dân gian của người Khơ Mú và người Thái về nguồn gốc loài người sinh ra từ quả bầu. Tên tự gọi: Kmụ, Kưm Mụ với nghĩa là “người” hay “cộng đồng người.” Tên gọi khác: Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh.
Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019, dân tộc Khơ-mú có 90.612 người, trong đó số nam giới là 45.494 người, nữ giới là 45.118 người, 97% dân số sống tại nông thôn. Họ phân bố chủ yếu ở các tỉnh dọc biên giới Việt - Lào như Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên.
Người Khơ Mú sử dụng ngôn ngữ thuộc nhóm Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á) và nhiều người trong số họ biết đọc, viết chữ Thái. Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019, tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông là 65,8%. Tỷ lệ người đi học chung cấp tiểu học là 100,6%, trung học cơ sở là 79,2%, và trung học phổ thông là 26,2%. Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường là 22,8%.
Người Khơ Mú thường đồ xôi hay đồ ngô, độn sắn. Họ thích ăn những món có vị cay, chua, đắng, các thức ăn nướng có mùi như chẻo, nậm pịa, cá chua. Về trang phục, họ mặc giống người Thái, nhưng có điểm khác là cách trang trí những hàng tiền bạc và vỏ ốc ở phía thân áo của phụ nữ.
Nhà ở kiểu nhà sàn chủ yếu dùng cột không ngoãm, vách phên, sàn bương. Hiện nay nhiều nơi đã làm nhà khang trang, vững chãi hơn. Quan hệ xã hội: Người Khơ Mú quan hệ chặt chẽ giữa những người đồng tộc và những người láng giềng, nhất là người Thái. Mỗi bản gồm nhiều gia đình thuộc các dòng họ khác nhau, mỗi họ có trưởng họ. Những dòng họ này mang tên thú, chim, cây cỏ và có thể chia làm 3 nhóm tên họ, ngoài ra còn một số họ mang tên vật vô tri như: rọ lợn, môi múc canh.
Trong hôn nhân, người Khơ Mú tuân theo nguyên tắc thuận chiếu, đặc biệt trong phạm vi một dòng họ. Nhiều tàn dư mẫu hệ còn tồn tại như tục ở rể, chồng mang họ vợ, hôn nhân anh em vợ, chị em chồng. Ðám ma của người Khơ Mú gồm nhiều nghi thức tín ngưỡng, đặc biệt là bài cúng tiễn hồn người chết kéo dài hàng giờ. Lên nhà mới là dịp vui của gia đình và cả bản, thường mổ lợn thiết đãi bà con xóm giềng.
Ngoài tết Nguyên đán, người Khơ Mú còn tổ chức tết cơm mới sau vụ gặt tháng 10 âm lịch. Về thờ cúng, người Khơ Mú quan niệm có 5 loại ma quan trọng nhất: ma trời, ma đất, ma thuồng luồng, ma tổ tiên và ma nhà. Người Khơ Mú phổ biến cách tính ngày giờ căn cứ theo bảng cà la để vận dụng trong việc dựng nhà, cưới gả. Về văn nghệ, họ yêu thích làn điệu dân ca Tơm, cùng nhiều hoạt động như xoè, múa, thổi kèn môi, các loại sáo và bộ gõ bằng tre, nứa tự tạo.
Người Khơ Mú là cư dân sinh sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy nên được gọi là "Xá ăn lửa." Hiện nay hầu hết người Khơ Mú đã định canh định cư. Cây trồng ngoài lúa ngô ra còn có bầu bí, đỗ và các loại cây có củ. Nghề phụ gia đình chủ yếu là đan lát đồ gia dụng, một số nơi biết thêm nghề rèn, mộc, dệt vải. Kể từ khi thực hiện việc chuyển đổi cây trồng và mở rộng diện tích canh tác, không ít hộ gia đình đã thoát được cảnh nghèo đói, đời sống kinh tế ổn định.
Dân tộc Khơ Mú có tỷ lệ hộ nghèo là 51,6%, tỷ lệ hộ cận nghèo 13,4%. Tỷ lệ thất nghiệp là 1,04%, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 3,1%. Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực phi nông nghiệp là 8,3%, tỷ trọng lao động làm công việc quản lý hoặc CMKT bậc cao và trung là 1,1%, và tỷ lệ hộ làm nghề thủ công truyền thống là 0,05%.
Trên đây là một số thông tin thú vị về dân tộc Khơ Mú, Việt Nam. Hãy cùng iGuide.ai lên kế hoạch gặp gỡ, tiếp xúc và hòa mình vào văn hoá với những con người Khơ Mú trong thời gian tới nhé!
Nguồn:
- Các dân tộc ở Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật)
- Đặc trưng cơ bản của 54 dân tộc thiểu số năm 2019 (Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê)
- Website Ủy ban Dân tộc, Website Báo Nhân Dân
- Kết quả điều tra thu thập thông tin về tình trạng kinh tế xã hội của 54 dân tộc Việt Nam)
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn