Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

Các dân tộc Việt Nam
Người Ngái mang văn hóa phong phú và đa dạng vùng Quảng Ninh. Họ gìn giữ phong tục lâu đời, tạo nên sự hấp dẫn văn hóa khó cưỡng.
Dân tộc Ngái thuộc nhóm ngôn ngữ Hán-Tạng, gồm các nhóm Sín, Lê, Hắc Cá... phần lớn cư trú ở vùng trung du, ven biển, với điều kiện giao thông thuận tiện. Hãy cùng iGuide.ai tìm hiểu những thông tin về dân tộc Ngái, Việt Nam nhé!
Người Ngái có nguồn gốc từ Ngũ Động, huyện Phòng Thành, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Hiện nay, họ tập trung sống tại Móng Cái, Quảng Hà, Tiên Yên (Quảng Ninh) cùng một số địa phương thuộc các tỉnh Hà Bắc, Bắc Thái, Cao Lạng, Hà Tuyên. Từ "Ngái" là biến âm của chữ "Ngải" (Ngã), nghĩa là "tôi"; từ chữ Hán-Việt là "Ngại" và tiếng Quảng Đông là "Ngài". Người Ngái gọi mình là "Ngải". Họ còn tự xưng là "Sán Ngải", có nghĩa là “người ở rừng”, điều này phản ánh địa điểm cư trú xưa kia cũng như hiện nay của họ. Đây là một trong những cư dân có mặt sớm ở Việt Nam, tự nhận là cư dân bản địa "pủn tì nhằn".
Dân số người Ngái, theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 1/4/2019, là 1.649 người, trong đó nam chiếm 881 và nữ là 768. Quy mô hộ gia đình trung bình là 3,7 người/hộ; 72,2% dân số sống tại khu vực nông thôn. Về ngôn ngữ, người Ngái nói tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán-Tạng). Những người Hắc Cá (Khách Gia, tức Khách) hay Ngái Hắc Cá có tiếng nói gần với tiếng Ngái Ngũ Động.
Nhóm người Ngái trước đây định cư tại huyện Ân Bình, châu Gia Ưng (tỉnh Quảng Đông). Sau khi cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc (1849-1863) thất bại, mà họ đã tham gia, bị nhà Thanh đàn áp, họ phải di cư đến Việt Nam. Hiện nay, họ cư trú chủ yếu tại Quảng Hà, Tiên Yên (Quảng Ninh) và một số địa phương khác.
Thực phẩm: Người Ngái thích ăn cháo và rau xanh. Họ ưa dùng gia vị như tỏi, ớt, và gừng trong bữa ăn.
Trang phục: Y phục của người Ngái thường không thêu thùa. Nam giới mặc quần lá tọa và áo có 2 hoặc 3 túi. Nữ giới mặc áo 5 thân dài quá mông, cài khuy vải bên nách phải và thích tết tóc cuốn quanh đầu.
Nơi ở: Người Ngái sống phân tán trong các tỉnh Bắc Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, chủ yếu là nhà đất với nhiều kiểu kiến trúc và chất liệu mái khác nhau. Những người sống ở ven biển và hải đảo thường cư trú trên thuyền.
Cưới xin: Chế độ hôn nhân là một vợ một chồng. Mỗi đám cưới có hai lễ: lần đầu là lễ thành hôn, lần sau là lễ nhập phòng. Tuổi kết hôn sớm, hôn nhân mang tính gả bán cao. Ma chay: Người Ngái tin rằng sau khi chết, linh hồn sẽ sống trong một thế giới khác. Họ thường chôn theo người chết những đồ tùy táng đã từng sử dụng khi sống. Tang lễ có nhiều công đoạn phức tạp: báo tang, nhập quan, chôn cất, mở mả…
Thờ cúng: Người Ngái tin vào sự tồn tại của thể xác và linh hồn trong con người, cũng như của các thần thánh và linh hồn. Họ thờ cúng nhiều đối tượng như tổ tiên, thần, Phật, ma rừng và vong hồn thập loại chúng sinh, với nghi thức cúng và lễ vật khác nhau. Một nhóm người chuyên hành nghề tôn giáo đã hình thành.
Lễ, Tết: Ngoài những ngày lễ Tết phổ biến như Tết Nguyên đán và Hàn thực, người Ngái có Tết cơm mới vào ngày 10/10 âm lịch. Học: Người Ngái nói nhiều thổ ngữ khác nhau thuộc tiếng Hán phương nam nhưng trước kia ít người biết chữ. Ngày nay, phần lớn trẻ em khi vào độ tuổi đi học đều biết chữ Quốc ngữ và tiếng phổ thông.
Văn nghệ: Văn nghệ của người Ngái phong phú với các loại hình như dân ca, dân vũ và văn học truyền miệng. Họ có nhiều truyền thuyết, truyện cổ tích, thành ngữ, và tục ngữ thể hiện quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan, có ý nghĩa nhân bản đến ngày nay.
Trồng trọt: Lúa nước là cây trồng chính, người Ngái gọi ruộng là thẻn và làm ruộng là phả thẻn. Cả lúa nếp và tẻ đều được trồng, lúa tẻ chiếm khoảng 2/3 diện tích ruộng. Do sử dụng giống truyền thống và chưa áp dụng khoa học kỹ thuật phổ biến, năng suất lúa không cao. Từ năm 2000, giống lúa lai được áp dụng, thay đổi lịch mùa vụ.
Chăn nuôi: Người Ngái chủ yếu nuôi trâu để lấy sức kéo và phân bón. Lợn và gia cầm cũng được nuôi phổ biến để cung cấp thực phẩm trong dịp lễ, cúng bái và để bán. Trước đây, gia súc gia cầm được nuôi bằng thức ăn tự nhiên và rau lang, ngô, sắn.
Lâm nghiệp: Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu là phụ trợ do vị trí thuận lợi cho nông nghiệp và ngành dịch vụ, thương mại. Lâm nghiệp không phát triển mạnh, chỉ dừng ở mức khai thác tự nhiên.
Ngành nghề: Các nghề thủ công như làm đường mật, chế tác đồ gỗ, đan lát, làm gạch ngói chủ yếu là nghề phụ. Sản phẩm từ đan lát và chế tác đồ gỗ bền vững nhưng ít trở thành hàng hóa. Trước đây, nhiều hộ gia đình người Ngái làm nghề ép mía và sản xuất đường thủ công.
Trao đổi dịch vụ: Sinh sống ở vùng thấp và gần các chợ, người Ngái ở Tam Thái đã sớm tham gia vào buôn bán. Họ tổ chức các chuyến buôn bán dài với sản phẩm như mật ong, đường phên, mật mía, thuốc nam, chè, kẹo, mì, miến. Theo khảo sát tháng 6/2015 trong cộng đồng người Ngái tại thôn Tam Thái (Quảng Nam), buôn bán dịch vụ ngày càng đa dạng với các hoạt động ở chợ, bốc thuốc nam, mở dịch vụ bán hàng tạp hóa, hàng ăn sáng và bán thịt chó.
Trên đây là một số những thông tin thú vị về dân tộc Ngái, Việt Nam, hãy cùng iGuide.ai lên kế hoạch khám phá, gặp gỡ và và trải nghiệm văn hoá với những con người Ngái trong thời gian tới nhé!
Nguồn:
- Các dân tộc ở Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật)
- Đặc trưng cơ bản của 54 dân tộc thiểu số năm 2019 (Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê)
- Website Ủy ban Dân tộc, Website Báo Nhân Dân
- Kết quả điều tra thu thập thông tin về tình trạng kinh tế xã hội của 54 dân tộc Việt Nam)
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn
React với bài viết