Lưu
Chia sẻ
Xác thực bởi
Lưu
Chia sẻ

Các dân tộc Việt Nam
Khám phá bản sắc văn hóa đa dạng của dân tộc Chăm ở Việt Nam với những nghi lễ và kiến trúc độc đáo.
Là một nền văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc, nền văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm rất nổi tiếng trong khu vực Đông Nam Á. Tuy đã trải qua nhiều biến động của thời gian, nhưng người Chăm vẫn giữ được những giá trị văn hóa mà người xưa để lại. Hơn nữa, Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến việc bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc này. Hãy cùng iGuide.ai tìm hiểu những thông tin về dân tộc Chăm, Việt Nam nhé!
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời... Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Đốc.
178.948 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).
Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Đảo).
Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hóa rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ. Ngay từ những thế kỷ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa.
Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Đốc, Tây Ninh, An Giang, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thủy lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Người Chăm có thói quen ăn cơm, với gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thực đơn thường ngày bao gồm cá, thịt, và rau củ, là thành quả của hoạt động săn bắt, hái lượm, chăn nuôi và trồng trọt. Rượu cần và rượu gạo là thức uống được ưa chuộng. Tục ăn trầu cau là một phần không thể thiếu trong sinh hoạt và các lễ nghi phong tục cổ truyền của dân tộc Chăm.
Người Chăm có trang phục truyền thống độc đáo, với cả nam và nữ đều quấn váy tấm. Đàn ông thường mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy, trong khi đàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu trắng của vải sợi bông là màu chủ đạo trong y phục truyền thống. Ngày nay, trong sinh hoạt hàng ngày, người Chăm ăn mặc tương tự như người Việt ở miền Trung, tuy nhiên, chiếc áo dài chui đầu vẫn xuất hiện trong tủ đồ của phụ nữ cao niên.
Người Chăm cư trú chủ yếu tại Ninh Thuận và Bình Thuận, thường sống trong những căn nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình người Chăm có tổ chức nhà cửa theo một thứ tự khoa học và gần gũi: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, cùng nhà bếp và nhà tục, trong đó bao gồm kho thóc và buồng tân hôn, cũng là nơi ở của vợ chồng cô gái út trong gia đình.
Phương tiện vận chuyển truyền thống và phổ biến của người Chăm là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm nổi tiếng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao, phục vụ cho hoạt động trên sông và biển. Ngoài ra, họ còn chế tạo các loại xe bò kéo và trâu kéo có trọng tải lớn để vận chuyển hàng hóa trên bộ, thể hiện sự khéo léo và sáng tạo trong sinh hoạt đời sống hàng ngày.
Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên.
Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niee và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Độ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm…
Trong văn hóa Chăm, phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân theo phong tục cư trú phía nhà vợ, và con sinh ra đều mang họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu, điều này phản ánh tư tưởng truyền thống mẫu hệ. Gia đình Chăm duy trì mô hình hôn nhân một vợ một chồng, nhấn mạnh sự ổn định và bền vững trong đời sống gia đình.
Người Chăm có hai hình thức để tiễn đưa người đã mất về thế giới bên kia là thổ táng và hỏa táng. Nhóm cư dân tuân thủ theo đạo Bà la môn thường lựa chọn hỏa táng theo giáo luật. Trong khi đó, các nhóm cư dân khác thì thực hiện thổ táng. Đặc biệt, những người trong cùng một dòng họ được chôn cất cùng một nơi, duy trì truyền thống theo huyết hệ mẹ.
Người Chăm tại Ninh Thuận, Bình Thuận có những nghi lễ cầu kỳ khi dựng nhà mới. Đầu tiên là lễ cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Sau khi gỗ vận chuyển về làng, lễ đón cây được tiến hành. Cuối cùng, lễ phạt mộc được tổ chức nhằm khởi công cho việc xây dựng ngôi nhà, ngỡ như một khúc nhạc mở đầu cho chặng đường sống mới.
Người Chăm thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một năm, như lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, và lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng đáng chú ý nhất là lễ Bon Katê, một lễ hội lớn diễn ra giữa tháng Mười âm lịch tại các đền tháp, cộng hưởng một không khí long trọng và trang nghiêm khắp vùng.
Người Chăm sử dụng nông lịch cổ truyền tính theo âm lịch. Lịch này không chỉ điều hòa thời gian cho các hoạt động nông nghiệp mà còn là công cụ quan trọng trong việc tổ chức các lễ hội truyền thống, tạo nên nhịp sống riêng có trong văn hóa Chăm.
Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Dân tộc Chăm, một trong những dân tộc thiểu số đa dạng và độc đáo tại Việt Nam, không chỉ sở hữu một văn hóa đặc trưng, mà còn đóng góp quan trọng vào sự đa dạng và phong phú về dân tộc của đất nước. Với lịch sử lâu đời và sự phát triển văn hóa độc lập, dân tộc Chăm là một phần không thể thiếu trong cảnh văn hóa Việt Nam.
Dân tộc Chăm có mặt chủ yếu tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên của Việt Nam, bao gồm Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Nông và các khu vực lân cận. Với ngôn ngữ, phong tục tập quán và trang phục truyền thống đặc trưng, dân tộc Chăm đã tạo nên một văn hóa độc đáo và phong phú. Ngôn ngữ Chăm được sử dụng hàng ngày, và nó đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống và giao tiếp hàng ngày của người Chăm.
Văn hóa của dân tộc Chăm được thể hiện qua nhiều di sản văn hóa đặc biệt. Trong kiến trúc, đền tháp Po Nagar, Tháp Chăm Pô Klong Garai và Tháp Po Rome là những công trình kiến trúc nổi tiếng, thể hiện sự tài năng và sự mỹ thuật của người Chăm. Ngoài ra, người Chăm còn giữ gìn và truyền thống nghệ thuật thủ công truyền thống như đan lưới, dệt thổ cẩm, và chế tác gốm sứ, tạo nên những sản phẩm độc đáo và tinh tế.
Việc bảo tồn và gìn giữ di sản văn hóa của dân tộc Chăm đã nhận được sự quan tâm sâu sắc và hỗ trợ tích cực từ chính phủ và các tổ chức xã hội. Đây không chỉ là công việc bảo tồn mà còn là hành trình bảo vệ và phát triển những giá trị quý báu của văn hóa Chăm. Các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và phục hồi đã được triển khai một cách bài bản, đi đôi với việc tổ chức các chương trình giáo dục và đào tạo về văn hóa Chăm như một phần không thể thiếu trong việc truyền tải và phát huy di sản văn hóa độc đáo này.
Các tổ chức và cơ quan chức năng đã chủ động thực hiện hàng loạt các dự án và hoạt động nhằm bảo vệ và củng cố di sản văn hóa Chăm trong bối cảnh hiện đại. Những dự án này đã tạo ra điều kiện thuận lợi giúp cộng đồng sâu sắc hơn trong việc tìm hiểu văn hóa, truyền thống và lịch sử của dân tộc Chăm. Đặc biệt, sự chú trọng vào công tác khảo cổ và phục dựng các công trình kiến trúc, đền tháp, và lăng mộ là một phần thiết yếu của việc gìn giữ những di sản lịch sử đầy ý nghĩa này.
Dân tộc Chăm không chỉ sở hữu một nền văn hóa đặc trưng và phong phú mà còn đóng góp một phần quan trọng vào sự đa dạng và phát triển của bức tranh văn hóa tại Việt Nam. Việc bảo tồn và phát triển văn hóa Chăm không chỉ đảm bảo quyền tự do văn hóa và quyền đa dạng văn hóa cho cộng đồng người Chăm, mà hơn thế, còn là nền tảng góp phần xây dựng một xã hội công bằng, đa văn hóa, nơi mọi người đều đoàn kết và chung sống hòa bình.
Trên đây là một số những thông tin thú vị về dân tộc Chăm, Việt Nam, hãy cùng iGuide.ai lên kế hoạch khám phá, gặp gỡ và và trải nghiệm văn hoá với những con người Chăm trong thời gian tới nhé!
Nguồn:
- Các dân tộc ở Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật)
- Đặc trưng cơ bản của 54 dân tộc thiểu số năm 2019 (Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê)
- Website Ủy ban Dân tộc, Website Báo Nhân Dân
- Kết quả điều tra thu thập thông tin về tình trạng kinh tế xã hội của 54 dân tộc Việt Nam)
Đọc tiếp
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn