Chi hội · Dec 18, 2024 · Đọc 7 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Dec 18, 2024 · Đọc 7 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Bài viết này sẽ phân tích chi tiết 9 thách thức lớn mà Việt Nam đang phải đối mặt trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên nước. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tìm ra các giải pháp và chiến lược cần thiết để vượt qua những khó khăn này.
Việt Nam là quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc, nguồn nước dồi dào. Tuy nhiên, hiện nay nhiều nơi người dân đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, gây lo ngại về an ninh nguồn nước trong thời gian tới.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu nhiều thiên tai nhất ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương và nguy cơ thiên tai ngày càng gia tăng. Mặc dù không phải là quốc gia thiếu nước nghiêm trọng nhưng trong những năm gần đây, tài nguyên nước của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như: thiếu nước, phân bố nước không đều theo không gian và thời gian; tác động của biến đổi khí hậu; ô nhiễm nguồn nước; tài nguyên nước phụ thuộc nhiều vào nước ngoài; xung đột trong sử dụng nước tại các lưu vực sông; khả năng tiếp cận nguồn nước sạch an toàn còn thấp; bảo vệ rừng, tài nguyên nước tại các lưu vực sông, hiệu quả sử dụng nước còn thấp; các vấn đề về tài nguyên để giải quyết toàn diện vấn đề an ninh nguồn nước, hậu quả là tài nguyên nước của Việt Nam quá dồi dào, quá khan hiếm, quá bẩn và là mối đe dọa, là nguyên nhân làm chậm lại tăng trưởng kinh tế - xã hội.
9 thách thức lớn về tài nguyên nước ở Việt Nam như sau:
1. Tài nguyên nước của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào nước ngoài.
Phần lớn các hệ thống sông lớn của Việt Nam là các sông xuyên biên giới mà Việt Nam là quốc gia hạ lưu. Tổng lượng nước chảy vào Việt Nam từ nước ngoài là 520 tỷ m3, chiếm 63% tổng lượng dòng chảy các sông của nước ta.
2. Tài nguyên nước phân bố không đều theo không gian và thời gian.
Toàn bộ lãnh thổ từ các tỉnh biên giới phía Bắc đến Thành phố Hồ Chí Minh, nơi tập trung 80% dân số và trên 90% hoạt động sản xuất, dịch vụ, chỉ chiếm gần 40% lượng nước của cả nước; 60% lượng nước còn lại nằm ở Đồng bằng sông Cửu Long, nơi chỉ chiếm 20% dân số và khoảng 10% hoạt động sản xuất, dịch vụ. Lưu vực sông Đồng Nai, nơi chỉ có 4,2% lượng nước, đang đóng góp khoảng 30% GDP của cả nước. Lượng nước trong 3-5 tháng mùa lũ chiếm 70-80%, trong khi 7-9 tháng mùa khô chỉ chiếm khoảng 20-30% lượng nước của cả năm.
3. Hiệu quả khai thác và sử dụng nước trong các ngành công nghiệp còn thấp.
Tỷ lệ thất thoát nước cấp cho đô thị và nông thôn còn cao (khoảng 25%), khả năng khai thác nước thực tế thấp hơn nhiều so với khả năng thiết kế, đặc biệt là khai thác nước trong thủy lợi và nông nghiệp. Hầu hết các hệ thống thủy lợi vẫn chưa khai thác hết khả năng thiết kế, chỉ ở mức 50 đến 90% tùy theo khu vực. Trong khi đó, điều tiết nước và hiệu quả sử dụng nước còn thấp, chưa kinh tế, thất thoát nước vẫn còn lớn (khoảng 30% trong thủy lợi).
4. Áp lực từ phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng và tình trạng khai thác, sử dụng nước chung của các ngành, địa phương.
Theo thống kê, trung bình trong 10 năm qua, nhu cầu sử dụng nước đã tăng gấp ba lần. Trong 25 năm tới, nhu cầu sử dụng nước hằng ngày của người dân tại các đô thị dự kiến sẽ tăng gấp đôi so với khả năng của hệ thống hiện tại. Theo tính toán, Ngân hàng Thế giới dự báo tổng nhu cầu sử dụng nước mùa khô năm 2030 sẽ tăng 32% so với hiện tại (theo kịch bản bình thường), gây áp lực và căng thẳng về tài nguyên nước cho 11/16 lưu vực sông tại Việt Nam.
5. Áp lực lên sự phát triển kinh tế - xã hội và tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngày càng gia tăng.
Áp lực phát triển kinh tế đã và đang tác động, gây áp lực ngày càng lớn và nghiêm trọng đến cả số lượng và chất lượng tài nguyên nước ở các sông, suối và tầng chứa nước, đặc biệt là các nguồn nước dùng để sản xuất nước sạch phục vụ sinh hoạt. Hầu hết các đoạn sông chảy qua các khu vực đông dân cư, các khu công nghiệp, làng nghề đã và đang bị ô nhiễm ở các mức độ khác nhau. Đặc biệt, mức độ ô nhiễm tăng cao vào mùa khô, khi lượng nước chảy vào các con sông giảm.
6. Việc tiếp cận nguồn nước sạch, an toàn với chi phí hợp lý phục vụ sản xuất và sinh hoạt vẫn còn thấp..
Mặc dù tổng trữ lượng nước trung bình của cả nước và các tỉnh tương đối dồi dào, một số địa phương vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước sạch, an toàn. Trong khi nước được coi là quan trọng đối với sức khỏe, vệ sinh và nông nghiệp, nước cũng là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất. Theo khảo sát doanh nghiệp năm 2015 của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, khoảng 8% doanh nghiệp sản xuất báo cáo ít nhất một sự cố thiếu nước trong năm trước.
7. Duy trì và phát triển diện tích rừng và bảo vệ tài nguyên nước.
Tình trạng suy giảm rừng đầu nguồn và phá rừng ở Việt Nam đã đến mức báo động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên nước tại các lưu vực sông. Mất thảm thực vật là yếu tố lớn nhất dẫn đến tình trạng xói mòn lưu vực, lớp đất mặt bị rửa trôi, dẫn đến bồi lắng và làm giảm khả năng sử dụng của các hồ chứa. Trong 3 năm 2016-2018, diện tích rừng bị thiệt hại bình quân là 2.430 ha/năm, giảm 270 ha/năm, tương đương giảm 10% so với giai đoạn 2011-2015. Ước tính giai đoạn 2016-2020 sẽ giảm 30% so với giai đoạn 2011-2015.
8. Tác động của biến đổi khí hậu và rủi ro liên quan đến nước.
Nước ta là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, trong đó tài nguyên nước sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất và sớm nhất do lượng mưa thay đổi bất thường và mực nước biển dâng cao, tập trung nhiều nhất ở hai vùng sản xuất lúa và thủy sản chính của cả nước là Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng. Dự báo đến năm 2030, 45% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ bị nhiễm mặn, làm giảm 9% năng suất lúa so với hiện nay.
9. Các vấn đề về quản trị và tài nguyên nhằm giải quyết toàn diện các nhiệm vụ về tài nguyên nước trong tương lai gần và 20-30 năm tới.
Hiện nay, khung pháp lý về quản lý tài nguyên nước đã tương đối đầy đủ, nhưng vẫn chưa có thông tin cụ thể về trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong quản lý nhà nước về tài nguyên nước, quản lý, vận hành các công trình khai thác, sử dụng nước, trách nhiệm bảo vệ, phát triển tài nguyên nước, phòng ngừa tác hại do nước gây ra.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn