Chi hội · Nov 24, 2024 · Đọc 3 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Nov 24, 2024 · Đọc 3 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Việt Nam sở hữu nguồn vốn thiên nhiên phong phú và đa dạng, từ rừng nguyên sinh, hệ sinh thái biển đến tài nguyên nước ngọt và khoáng sản có giá trị. Bảo vệ những tiềm năng này là điều cần thiết để duy trì phát triển bền vững và bảo tồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai. Bài viết này phân tích các tiềm năng vốn thiên nhiên quan trọng của Việt Nam và lý do tại sao chúng cần được bảo vệ.
Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi năm 2020) đã bổ sung nội dung về công cụ, nguồn lực kinh tế để bảo vệ môi trường, trong đó nêu rõ việc thúc đẩy khai thác, sử dụng, phát triển vốn tự nhiên; đồng thời, bổ sung chính sách về tín dụng xanh, trái phiếu xanh để huy động nhiều nguồn lực xã hội cho bảo vệ môi trường.
Việt Nam có vị trí chiến lược rất quan trọng trong khu vực và thế giới, kết nối vùng kinh tế biển rộng lớn với vùng kinh tế lục địa châu Á. Tài nguyên thiên nhiên phong phú và có nhiều tiềm năng khai thác, sử dụng như: Tài nguyên khí hậu, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên biển và đa dạng sinh học.
- Tài nguyên đất: Thống kê cho thấy, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, cả nước có 33.123,6 nghìn ha, diện tích đất sử dụng vào mục đích chiếm hơn 93% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó, nhóm đất nông nghiệp là 11.508,0 nghìn ha (chiếm 34,74% tổng diện tích tự nhiên), đất lâm nghiệp là 14.910,5 nghìn ha (chiếm 45,01% tổng diện tích tự nhiên), đất chuyên dùng là 1.875,3 nghìn ha (chiếm 5,66% tổng diện tích đất tự nhiên); đất ở là 714,9 nghìn ha.
- Tài nguyên nước: Việt Nam có 3.450 sông, suối có chiều dài từ 10 km trở lên. Các sông, suối này nằm ở 108 lưu vực sông phân bố và trải dài trên cả nước với tổng diện tích hơn 1.167 triệu km2. Trong đó, có 33 lưu vực sông lớn, liên tỉnh, với 3.140 sông (chiếm 91% số sông của cả nước), tổng diện tích lưu vực khoảng 306,44 nghìn km2, bằng 92,6% diện tích đất liền của cả nước. ta. Tổng trữ lượng động của nước dưới đất trên toàn lãnh thổ, không kể các đảo, khoảng 2.000 m3/s (khoảng 63 tỷ m3/năm).
- Tài nguyên sinh thái: Sự đa dạng về địa hình, đất đai và khí hậu của Việt Nam đã tạo nên sự đa dạng của các hệ sinh thái tự nhiên, bao gồm rừng, biển, đất ngập nước và sự phong phú về tài nguyên thiên nhiên, các loài và nguồn gen sinh học. Việt Nam có 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới; 2 di sản thiên nhiên thế giới; 8 khu Ramsar và 5 vườn di sản.
Việt Nam cũng là quốc gia có tính đa dạng sinh học cao về các loài động vật, thực vật và sinh vật. Theo thống kê, đến nay trong tự nhiên có tới 7,5 loài vi sinh vật, 16,4 nghìn loài thực vật, 10,3 nghìn loài động vật trên cạn, 2 nghìn loài động vật thủy sinh nước ngọt, trên 11 nghìn loài sinh vật biển.
- Tài nguyên không tái tạo: Việt Nam đã phát hiện trên 5.000 mỏ và điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau, trong đó có một số có trữ lượng lớn, là nguồn tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Nguồn tài nguyên tái tạo: Việt Nam có tiềm năng phát triển các nguồn năng lượng tái tạo sẵn có bao gồm: Thủy điện nhỏ, năng lượng gió, năng lượng sinh khối, năng lượng khí sinh học, nhiên liệu sinh học, năng lượng từ trường, nguồn rác thải sinh hoạt, năng lượng mặt trời và năng lượng địa nhiệt.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn