Chi hội · Nov 27, 2024 · Đọc 7 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Nov 27, 2024 · Đọc 7 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Nhãn hiệu là yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, giúp doanh nghiệp bảo vệ thương hiệu và tạo dựng uy tín trên thị trường. Đăng ký nhãn hiệu không chỉ ngăn chặn việc sử dụng trái phép mà còn nâng cao giá trị thương hiệu. Bài viết này sẽ trình bày chi tiết về tầm quan trọng của nhãn hiệu và vai trò của chúng trong hệ thống bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp.
Nhãn hiệu là một trong những đối tượng được bảo hộ của quyền sở hữu công nghiệp. Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, việc ban hành các quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ nhãn hiệu nói riêng có tác dụng bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu, chống lại các hành vi vi phạm pháp luật, cạnh tranh không lành mạnh trên thực tế. Theo đó, nhãn hiệu được xác lập là quyền sở hữu công nghiệp dưới hình thức văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo thủ tục đăng ký của Luật Sở hữu trí tuệ.
Theo quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.
Ngoài các loại nhãn hiệu phổ biến, Luật Sở hữu trí tuệ còn quy định bốn loại nhãn hiệu khác, bao gồm gohm:
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các yêu cầu sau đây theo Điều 72 của Luật Sở hữu trí tuệ:
Theo đó, nhãn hiệu muốn được cấp văn bằng bảo hộ thì phải đồng thời đáp ứng 2 tiêu chí sau:
Đầu tiên, Nhãn hiệu phải là những dấu hiệu hữu hình (có thể quan sát bằng tay) và phải là những dấu hiệu cụ thể tồn tại dưới dạng chữ cái, từ ngữ, cụm từ, hình ảnh, bản vẽ, bao gồm cả hình ảnh ba chiều hoặc hình ảnh kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.
Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định các dấu hiệu bị loại trừ khi xem xét cấp văn bằng bảo hộ dưới tên nhãn hiệu: Các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với quốc kỳ, quốc huy, biểu tượng của quốc gia khác; nước; biểu tượng; quốc kỳ; phù hiệu; tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép, ví dụ: Không được sử dụng chữ viết tắt của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) hoặc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) làm nhãn hiệu; không được sử dụng tên thật, biệt danh, bút danh, hình ảnh của các vị lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam và nước ngoài; không được sử dụng nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu kiểm định, nhãn hiệu bảo hành của tổ chức quốc tế theo yêu cầu của tổ chức đó, trừ trường hợp chính tổ chức đó đăng ký các nhãn hiệu đó làm nhãn hiệu chứng nhận, ví dụ: nhãn hiệu chứng nhận ISO 9000 cho sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế hoặc nhãn hiệu CE chứng nhận chất lượng sản phẩm khi xuất khẩu vào thị trường EU; dấu hiệu gây hiểu lầm, nhầm lẫn hoặc lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc, tính năng, công dụng, chất lượng, số lượng, giá trị hoặc các đặc điểm khác của hàng hóa hoặc dịch vụ.
Thứ hai, Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc nhiều yếu tố dễ nhận biết và dễ nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ nhớ..." (Khoản 1, Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ). Nhãn hiệu dễ nhận biết là nhãn hiệu bao gồm đủ các yếu tố tác động đến nhận thức, tạo ra ấn tượng có thể lưu trữ trong trí nhớ hoặc tiềm thức của mọi người. Bất kỳ ai tiếp xúc với chúng đều có thể dễ dàng nhận biết và nhớ đến chúng khi đặt cạnh các nhãn hiệu khác. Có thể có nhiều yếu tố độc đáo khác biệt so với các yếu tố đã có, nhưng lại có quá nhiều chi tiết phức tạp hoặc quá nhiều hình vẽ phức tạp khiến người dùng khó nắm bắt và nhớ đến nội dung hoặc cấu trúc của nó.
Một nhãn hiệu được coi là không thể phân biệt được nếu nó là một dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau:
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn
React với bài viết