Chi hội · Dec 18, 2024 · Đọc 8 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Dec 18, 2024 · Đọc 8 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Bài báo này sẽ đi sâu vào các biện pháp quản lý và phát triển bền vững tài nguyên nước, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhu cầu phát triển kinh tế. Các giải pháp và chiến lược hiệu quả sẽ được trình bày để đảm bảo cân bằng giữa phát triển và bảo tồn tài nguyên nước.
Theo thống kê, hiện nay ở Việt Nam có 3.450 sông, suối có tổng chiều dài từ 10km trở lên, với tổng lượng nước khoảng 7.936 tỷ m3, nghĩa là lượng nước trung bình hằng năm là 936.000 tỷ m3. Ông Ngô Mạnh Hà, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước - Bộ Tài nguyên và Môi trường, bình luận rằng với nguồn tài nguyên như vậy, nếu xét theo bình quân đầu người, Việt Nam không phải là quốc gia thiếu nước. Tuy nhiên, nếu xét theo sản lượng nước nội sinh chỉ chiếm khoảng 40%, trong đó có tới 60% là từ nước ngoài, Việt Nam là quốc gia thiếu nước với chỉ 4.421 m3/người/năm, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của khu vực Đông Nam Á là 4.900 m3/người/năm.
Không chỉ sử dụng nước một cách tiết kiệm, hiệu quả, mỗi người dân cần là người giám sát hành vi của các tổ chức, cá nhân có nguồn nước để giữ gìn, bảo vệ, để nguồn nước của chúng ta “quý giá” chứ không trở nên “khan hiếm”.
Trong khi lượng nước cố định, chúng ta đang sử dụng nước không hiệu quả, chưa tính toán đầy đủ giá trị của tài nguyên nước trong phát triển kinh tế - xã hội. Giá trị khai thác, sử dụng nước của chúng ta quá thấp. Có tới 81% tổng lượng nước được sử dụng cho nông nghiệp và 11% cho nuôi trồng thủy sản, chỉ có 3% cho sinh hoạt và 5% cho công nghiệp. Về hiệu quả, giá trị lợi nhuận chỉ đạt khoảng 2,37 USD/m3 nước, chỉ bằng 12% so với toàn thế giới (19 USD/m3). Nhiều tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước một cách thiếu hợp lý, không theo đúng quy định của pháp luật, nhưng khi có vi phạm thì việc thực thi pháp luật lại không nghiêm, không đủ sức răn đe.
Quản lý tài nguyên nước của chúng ta còn chồng chéo, một con sông do nhiều đơn vị, bộ quản lý, chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật. Ông Nguyễn Quang Huân - Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết, chúng ta có sự chồng chéo trong quản lý tài nguyên nước như Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý tài nguyên nước; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương quản lý hồ chứa, công trình thủy lợi, Bộ Công Thương quản lý đập, công trình thủy điện, Bộ Giao thông vận tải quản lý giao thông đường thủy... Hơn nữa, thủ tục hành chính liên quan đến khai thác, sử dụng nước chưa thống nhất. Do chức năng quản lý nhà nước chưa được phân định rõ ràng, nên tình trạng quản lý chồng chéo dẫn đến “không ai kêu cha chung”, có những việc không có đơn vị nào chịu trách nhiệm cụ thể, hoặc có những chỉ đạo chồng chéo, thậm chí trái ngược nhau; gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp khi tham gia khai thác tài nguyên nước.
Ngoài ra, tỷ lệ nước thải sau xử lý xả ra môi trường còn rất thấp. Hà Nội là địa phương đã có nhiều nỗ lực trong việc xử lý nước thải nhưng chỉ đảm bảo 28,8%, trong khi cả nước chỉ đạt 15% trong khi tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngày càng nghiêm trọng do nước thải chưa qua xử lý từ hoạt động sản xuất công nghiệp, nước thải từ hoạt động nông nghiệp có sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, nước thải sinh hoạt chứa nhiều hóa chất... gây ô nhiễm nguồn nước. Tuy nhiên, việc đầu tư cho hoạt động xử lý nước thải lại chưa tương xứng, hiện đang áp dụng mức giá 10% giá nước sạch, quá thấp so với thế giới. Ví dụ như ở Israel, nếu người dân phải trả 4 USD cho 1 mét khối nước sạch thì 3 USD là tiền xử lý nước thải. Hay ở châu Âu, 1 mét khối nước sạch có giá khoảng 2-3 euro, phí cấp nước sạch chỉ 1 euro. Vì giá quá thấp nên không có doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nào muốn tham gia vào hoạt động xử lý nước thải.
Đó cũng là lý do tại sao chỉ số an ninh nguồn nước của chúng ta hiện nay là 29 năm, rất thấp so với các nước phát triển. Ông Ngô Mạnh Hà đưa ra ví dụ, Úc đang tiến gần đến 49 năm, trong khi nguồn nước của họ rất hạn chế so với Việt Nam. Họ quản lý nước theo mô hình sông kết hợp với quản lý trên nền tảng công nghệ số. Mọi vấn đề khai thác, sử dụng, bảo vệ, điều tiết, phân phối về cơ bản sẽ do một cơ quan điều phối.
Rõ ràng, quá trình phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, đô thị hóa; dân số gia tăng và nhu cầu sử dụng nước phục vụ đời sống, sản xuất, kinh doanh của người dân tăng nhanh; tình trạng ô nhiễm nguồn nước chưa được giải quyết triệt để, khiến chất lượng nước suy giảm... đang gây sức ép cho chúng ta, trong khi văn bản pháp luật còn thiếu và còn nhiều điều chưa được quy định. Chính quyền các cấp và nhân dân chưa nhận thức đầy đủ, chưa quan tâm đúng mức, dẫn đến quản lý lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm trong thanh tra, giám sát môi trường, tài nguyên nước. Vấn đề cấp bách đặt ra là phải nhanh chóng sửa đổi hệ thống pháp luật về tài nguyên nước, đồng thời có kế hoạch sớm, tốt cho công tác quản lý, khai thác, sử dụng nước để quản lý bền vững.
Những ngày này, Dự thảo Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) đang “nóng” tại Quốc hội với những cuộc tranh luận nảy lửa. Do thời gian có hạn, chỉ khoảng một nửa số đại biểu đăng ký được phát biểu tại hội trường. Các ý kiến phát biểu rất nhiệt tình và có trách nhiệm, thể hiện sự quan tâm, trăn trở và mong muốn xây dựng một Luật hoàn chỉnh, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý tài nguyên nước, khắc phục những bất cập, vướng mắc trong công tác quản lý.
Các ý kiến đều thống nhất cao về các giải pháp khai thác tối đa tài nguyên thiên nhiên, phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả; tập trung phòng ngừa, kiểm soát, phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; phân định rõ trách nhiệm quản lý tài nguyên nước và trách nhiệm quản lý các công trình khai thác nước ở cả trung ương và địa phương, khắc phục tình trạng chồng chéo, xung đột pháp lý.
Nhiều ý kiến cho rằng cần phải bảo đảm an toàn hồ chứa nước, xây dựng thêm nhiều hồ chứa nước đa mục tiêu, đa dạng hóa nguồn nước. Nhà nước cần có chính sách phù hợp để khuyến khích nghiên cứu, đầu tư vào lĩnh vực này. Bên cạnh đó, cần ứng dụng nền tảng công nghệ số trong quản lý, vận hành tài nguyên nước, thống nhất cơ sở dữ liệu, xây dựng các công cụ hỗ trợ để giảm biên chế quản lý, vận hành, chi phí đầu tư của nhà nước nhưng vẫn tăng hiệu quả hoạt động, từng bước chuyển từ quản lý bằng công cụ hành chính sang quản lý bằng công cụ kinh tế thông qua các chính sách về giá nước, thuế, phí, lệ phí, lệ phí cấp quyền khai thác tài nguyên nước; đẩy mạnh xã hội hóa...
Tuy nhiên, điều quan trọng là từ ý thức của mỗi người dân. Theo đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về tầm quan trọng của nước và việc bảo vệ tài nguyên nước, các phương pháp bảo vệ tài nguyên nước, mối nguy hại đối với tài nguyên nước; đồng thời có các văn bản tuyên truyền để người dân hiểu và có hành vi ứng xử đúng mực với tài nguyên nước, giáo dục lối sống xanh, lối sống sinh thái. Mỗi người dân cần thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ, quản lý, sử dụng tài nguyên nước. Không chỉ sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, hạn chế sử dụng hóa chất, thuốc trừ sâu trong sản xuất và đời sống mà mỗi người còn là người giám sát hoạt động của các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến tài nguyên nước, lên án các hành vi hủy hoại tài nguyên nước. Đất nước đã trải qua giai đoạn phát triển “nóng”, người dân, doanh nghiệp có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên nước, hướng tới cuộc sống xanh. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để chúng ta đẩy mạnh công tác bảo vệ nguồn tài nguyên “quý” nhưng không “hiếm” nếu biết khai thác, sử dụng.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn
React với bài viết