Chi hội · Nov 26, 2024 · Đọc 9 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Nov 26, 2024 · Đọc 9 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Quản lý và sử dụng tài nguyên một cách khôn ngoan và bền vững là rất quan trọng đối với bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế lâu dài. Điều này đòi hỏi phải cân nhắc kỹ lưỡng trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên, từ đất, nước đến khoáng sản. Các chính sách và biện pháp cần được thực hiện để giảm thiểu chất thải, bảo vệ đa dạng sinh học và thúc đẩy sử dụng năng lượng tái tạo. Sự tham gia của cộng đồng và hợp tác quốc tế cũng là những yếu tố chính để đạt được mục tiêu này.
Việt Nam có diện tích tự nhiên trung bình, xếp thứ 59/200 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưng lại có dân số đông (xếp thứ 13) nên diện tích đất tự nhiên bình quân đầu người rất thấp (0,38ha), chỉ bằng 1/5 so với bình quân thế giới (1,96ha).
Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng về chủng loại; Một số loại khoáng sản có trữ lượng lớn và có tiềm năng phát triển thành các ngành công nghiệp như dầu khí, bô xít, titan, than, đất hiếm...; Tiềm năng năng lượng tái tạo lớn, đặc biệt là gió, mặt trời, địa nhiệt, sinh khối, thủy điện...
Tổng lượng nước mặt trung bình hằng năm của Việt Nam khoảng 830 tỷ m3, tiềm năng nước ngầm khoảng 63 tỷ m3/năm; Trên 60% nguồn nước mặt có nguồn gốc từ nước ngoài. Vùng biển Việt Nam rất giàu tài nguyên thủy sản, với khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú ở hơn 20 hệ sinh thái đặc trưng đã được phát hiện.
Để quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản phong phú, đa dạng của mình, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm xây dựng cũng như từng bước đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, bộ máy tổ chức quản lý tài nguyên; đầu tư cho công tác điều tra cơ bản được quan tâm hơn. Nhiều chương trình, dự án điều tra cơ bản về tài nguyên đã được triển khai, đặc biệt là điều tra địa chất khoáng sản.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý tài nguyên cũng còn một số hạn chế. Đó là công tác quản lý tài nguyên chưa được quan tâm đúng mức; có một số lĩnh vực nhận thức về khai thác, sử dụng tài nguyên chưa đúng, nhất là về mối quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lâu dài. Các chính sách, pháp luật về quản lý tài nguyên thiên nhiên còn bất cập, chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ, chưa sát với thực tế. Tài nguyên chưa được điều tra, đánh giá đầy đủ về tiềm năng, giá trị; chưa được khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả, bền vững; một số loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn đến suy thoái, cạn kiệt.
Trên cơ sở tình hình thực tế quản lý tài nguyên thời gian qua cũng như dự báo tình hình thời gian tới, Đảng đã đề ra mục tiêu chung cũng như mục tiêu cụ thể đến năm 2020.
Theo đó, về mục tiêu tổng quát, đến năm 2020, Việt Nam sẽ có sự chuyển biến căn bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững.
Đến năm 2050, Việt Nam trở thành quốc gia khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý, hiệu quả và bền vững.
Về mục tiêu cụ thể, đến năm 2020, đánh giá tiềm năng và giá trị các nguồn tài nguyên quan trọng trên đất liền; đạt được những tiến bộ quan trọng trong điều tra cơ bản tài nguyên biển. Sử dụng tài nguyên quốc gia tiết kiệm, hiệu quả và bền vững; bảo đảm cân đối quỹ đất cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ 3,8 triệu ha đất trồng lúa; Nâng cao hiệu quả sử dụng nước trên một đơn vị GDP; Khai thác hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên sinh thái, cảnh quan và sinh học. Chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo và năng lượng mới lên trên 5,6% tổng năng lượng thương mại sơ cấp; Giảm tiêu thụ năng lượng trên một đơn vị GDP.
Trên cơ sở mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, Đảng xác định nhiệm vụ cụ thể cho công tác quản lý tài nguyên. Điều tra và đánh giá tiềm năng, trữ lượng và giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên quốc gia.
Cụ thể, tập trung triển khai các chương trình, dự án điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên, nhất là điều tra cơ bản tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên biển; tập trung điều tra cơ bản địa chất khoáng sản biển sâu, phát triển khoáng sản mới. Tăng cường điều tra cơ bản, đánh giá chất lượng, tiềm năng tài nguyên đất; thoái hóa, ô nhiễm đất và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất, đồng bộ theo từng loại đất gắn với mục đích sử dụng.
Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản địa chất khoáng sản trên đất liền và dưới biển; Đánh giá sớm tiềm năng tài nguyên khoáng sản chiến lược và khoáng sản mới; thăm dò một số khoáng sản chiến lược quan trọng; Rà soát, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các mỏ ven biển; Thiết lập cơ sở dữ liệu quốc gia về địa chất khoáng sản. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và xuất bản bản đồ tài nguyên nước, ưu tiên vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên, các vùng kinh tế trọng điểm, vùng khan hiếm nước. Các vùng khác. Tập trung thúc đẩy công tác điều tra, thăm dò, phát hiện khoáng sản mới ở vùng biển sâu phục vụ phát triển đất nước. Từng bước tính giá trị tài nguyên vào giá thành sản phẩm.
Khai thác hợp lý, sử dụng có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên quốc gia.
Phân loại, quy hoạch chiến lược, quy hoạch bảo vệ, khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên chiến lược quan trọng. Xây dựng và triển khai các chiến lược bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên đất, khoáng sản, nước, rừng, thủy sản, năng lượng tái tạo. Nâng cao chất lượng quy hoạch tài nguyên, có tính đến tác động của biến đổi khí hậu. Xây dựng và triển khai các cơ chế quản lý, giám sát minh bạch việc sử dụng tài nguyên quốc gia, đảm bảo sử dụng hợp lý, hiệu quả, bền vững. Tham gia Sáng kiến minh bạch khai thác khoáng sản (EITI).
Kết hợp các trữ lượng khoáng sản chiến lược quan trọng với việc thúc đẩy khai thác hợp lý, hiệu quả tài nguyên khoáng sản; định hướng nhập khẩu một số khoáng sản chiến lược phục vụ phát triển kinh tế lâu dài; tăng cường chế biến, không xuất khẩu khoáng sản thô.
Phòng ngừa, ngăn chặn sớm tình trạng khai thác, xuất khẩu khoáng sản trái phép. Tái cơ cấu ngành khoáng sản gắn với chế biến sâu, đáp ứng nhu cầu trong nước, hạn chế xuất khẩu khoáng sản dưới dạng nguyên liệu thô và sử dụng hiệu quả khoáng sản sau khai thác. Xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông. Tăng cường cơ chế điều tiết, điều tiết nguồn nước góp phần hạn chế tình trạng thiếu nước cục bộ và theo mùa. Xây dựng và triển khai các kế hoạch, giải pháp đảm bảo dòng chảy kiệt vào mùa khô trên các lưu vực sông và an ninh nguồn nước. Thiết lập các hành lang bảo vệ các nguồn nước quan trọng.
Nghiên cứu tạo mưa nhân tạo và khai thác nước ngọt từ biển phục vụ đời sống nhân dân, bộ đội, ngư dân trên biển và hải đảo.
Tiến hành cải tạo, phục hồi các dòng sông, đoạn sông bị ô nhiễm, cạn kiệt. Phối hợp với các nước trong khu vực, theo dõi, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước thượng nguồn sông Hồng, sông Cửu Long, dự báo sớm các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước quốc gia để chủ động ứng phó, xử lý kịp thời.
Bảo vệ và ngăn ngừa sa mạc hóa, hoang mạc hóa, xâm nhập mặn, xói mòn đất... và từng bước bảo đảm diện tích đất cho phát triển rừng theo quy hoạch, đặc biệt là vùng núi Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên.
Thúc đẩy phát triển và sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, nguyên liệu thô, nhiên liệu, vật liệu mới để thay thế các nguồn tài nguyên truyền thống.
Nghiên cứu khai thác và phát huy các giá trị sinh thái, cảnh quan, nguồn gen phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch sinh thái và phát triển nông nghiệp.
Thúc đẩy và hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài để thăm dò, khai thác nguồn lực phục vụ nhu cầu của các ngành công nghiệp trong nước.
Hoạch định chiến lược tìm kiếm, thăm dò, khai thác các nguồn tài nguyên mới bên ngoài. Xây dựng và triển khai chiến lược khoáng sản, khoa học công nghệ tìm kiếm khoáng sản mới. Thúc đẩy và hỗ trợ các tập đoàn khai thác, chế biến khoáng sản Việt Nam hợp tác, đầu tư ra nước ngoài, hình thành mạng lưới đối tác khoáng sản chiến lược phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nghiên cứu và sản xuất các loại nguyên liệu thô, nhiên liệu và vật liệu mới có thể thay thế các nguồn tài nguyên truyền thống.
Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới, công nghệ nano... để sản xuất nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu mới có khả năng thay thế khoáng sản, vật liệu truyền thống. Đẩy mạnh sử dụng chất thải tái chế làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất công nghiệp.
Thúc đẩy giá trị cảnh quan thiên nhiên và dịch vụ hệ sinh thái nguồn gen.
Nghiên cứu khai thác, phát huy giá trị sinh thái, cảnh quan, nguồn gen phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch sinh thái và phát triển nông nghiệp./.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn