Chi hội · Dec 18, 2024 · Đọc 5 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Dec 18, 2024 · Đọc 5 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Bài viết này sẽ tìm hiểu các giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững ở Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu nhanh chóng. Các giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn đảm bảo phát triển kinh tế bền vững cho các thế hệ tương lai.
Tại Việt Nam, những biểu hiện rõ ràng nhất của biến đổi khí hậu như nhiệt độ trung bình tăng, mực nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán, bão, lũ lụt, sạt lở đất... đã làm thay đổi đáng kể diện tích, hình thức sử dụng đất cũng như định hướng quản lý đất đai tại nhiều vùng, nhiều tỉnh thành trên cả nước. Theo TS. Nguyễn Thị Huệ, một trong những nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu đến từ các hoạt động khai thác của con người, đặc biệt là trong thời đại công nghiệp, nhằm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Cụ thể, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) chiếm hơn 75% lượng khí thải nhà kính toàn cầu và gần 90% tổng lượng phát thải CO2, thông qua các hoạt động: Chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nước; các hoạt động phát triển kinh tế bao gồm: Phá rừng, sản xuất hàng hóa, công nghiệp, phát điện, sử dụng phương tiện giao thông, cung cấp năng lượng cho các tòa nhà, v.v.
Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tác động của biến đổi khí hậu đã gây ra những thay đổi bất thường về lượng mưa, mực nước biển dâng với tốc độ nhanh hơn khoảng 6mm/năm, khiến 11.838 nghìn ha đất bị thoái hóa (chiếm 35,74% diện tích tự nhiên của cả nước), với các dạng thoái hóa đất như giảm độ phì nhiêu, xói mòn, hạn hán, sa mạc hóa, hoang mạc hóa; đất bị nén chặt, chua hóa, nhiễm mặn... xảy ra trên khắp Việt Nam.
Theo nhiều chuyên gia, các cấp, các ngành cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu để sử dụng đất đai một cách tiết kiệm, hiệu quả, trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Qua đó, tập trung thúc đẩy, lồng ghép các yếu tố biến đổi khí hậu vào các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Riêng đối với quy hoạch ngành - lĩnh vực dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu, các ngành, địa phương cần rà soát, điều chỉnh cơ chế, tổ chức liên quan đến việc thực hiện các chính sách, quy hoạch, kế hoạch, nhiệm vụ cũng như các phương tiện, điều kiện phù hợp với tình hình biến đổi khí hậu hiện nay và tác động trước mắt, lâu dài đến tài nguyên đất.
Ngoài ra, cần ban hành các giới hạn phát thải và chế tài pháp lý có tính răn đe cao đối với các hành vi gây hại cho môi trường như phá rừng hay xả rác thải, khí nhà kính vượt mức quy định đối với cá nhân, tổ chức.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, để quản lý đất đai bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai đa mục tiêu, từ trung ương đến địa phương, giữa các ngành, lĩnh vực và được cập nhật định kỳ hàng năm. Đồng thời, cơ sở dữ liệu đất đai cũng cần ứng dụng khoa học công nghệ 4.0 và trí tuệ nhân tạo (AI), tích hợp các yếu tố biến đổi khí hậu theo đặc điểm của từng vùng, miền như mức độ rủi ro, loại hình, thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra để làm cơ sở triển khai các quy hoạch quản lý sử dụng đất thích ứng với biến đổi khí hậu của từng địa phương.
Đối với vùng đồng bằng ven biển, đang phải đối mặt với các hiện tượng biến đổi khí hậu như hạn hán, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển..., cần xây dựng các giải pháp để “sống chung với biến đổi khí hậu”, trang bị, nâng cao hiểu biết và khả năng thích ứng với tác động của hạn hán, nước biển dâng trong tương lai.
Ngoài ra, Nhà nước cần có cơ chế cụ thể hỗ trợ người dân vùng bị ảnh hưởng như di dời nhà vào gần đất liền; chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ trồng cây nước ngọt sang trồng cây nông sản nước lợ, hỗ trợ giống cây trồng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu khắc nghiệt; hỗ trợ kinh phí, biện pháp axit hóa, rửa mặn, cải tạo đất phèn, đất mặn...
Đối với vùng núi và vùng cao, đây là hai vùng chịu ảnh hưởng của các hiện tượng khí hậu như mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, nắng nóng, hạn hán. Do đó, định hướng sử dụng đất của vùng này cần tập trung vào việc thúc đẩy thâm canh ở những nơi có khả năng tưới, tiêu; tăng cường nông lâm kết hợp, khai thác hợp lý nhất tài nguyên đất đai theo hướng sản xuất hàng hóa; bảo vệ, duy trì và phát triển thảm thực vật ở vùng thượng nguồn, vùng cao, vùng phòng hộ.
Cùng với đó, các địa phương cũng cần được hỗ trợ các chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực về quản lý sử dụng đất bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây được coi là nguồn nhân lực cần thiết để tiên phong trong việc thay đổi cách thức quản lý sử dụng đất.
Trước hết, để giúp mọi người và tổ chức giảm thiểu các hoạt động gây hại đến môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng, không chỉ cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về những rủi ro do biến đổi khí hậu gây ra mà còn cần nâng cao năng lực của các nhà quản lý, hoạch định chính sách đất đai về khí hậu và biến đổi khí hậu đối với tài nguyên đất ở Việt Nam để họ có thể đưa ra các biện pháp quản lý sử dụng đất bền vững.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn