Chi hội · Nov 26, 2024 · Đọc 6 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Nov 26, 2024 · Đọc 6 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Quản lý tài nguyên ở Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm khai thác quá mức và ô nhiễm môi trường. Chính phủ đã thực hiện nhiều chính sách khác nhau để bảo vệ và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, từ đất, nước đến khoáng sản. Các biện pháp này không chỉ nhằm bảo vệ môi trường mà còn hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững, đảm bảo nguồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai. Nâng cao nhận thức của công chúng và tăng cường hợp tác quốc tế cũng là những yếu tố quan trọng trong nỗ lực này.
Tài nguyên thiên nhiên (sau đây gọi tắt là tài nguyên) là những thành phần của môi trường, tồn tại dưới dạng tự nhiên, không phụ thuộc vào ý muốn của con người. Tài nguyên là những thành phần không thể thiếu, được khai thác và sử dụng để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người. Do đó, đối với mỗi quốc gia, dân tộc, tài nguyên thiên nhiên là nguồn tài sản, nguồn lực, vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước.
Quản lý tài nguyên phải hướng tới mục tiêu đảm bảo các yêu cầu sau: 1- Hiểu biết ngày càng đầy đủ và toàn diện về tiềm năng, trữ lượng và giá trị của tài nguyên thiên nhiên; 2- Thúc đẩy và cân bằng tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế - xã hội; 3- Bảo đảm khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý, hiệu quả và bền vững; 4- Bảo vệ, phục hồi và phát triển tài nguyên tái tạo. Nội dung, phương pháp và biện pháp quản lý tài nguyên phụ thuộc phần lớn vào điều kiện tự nhiên, loại tài nguyên, mô hình tăng trưởng, đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Trong thế giới ngày nay, tài nguyên đã trở thành nguồn tài nguyên khan hiếm và là chủ đề tranh chấp quyết liệt ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo. Bối cảnh đó đặt ra những yêu cầu và thách thức ngày càng lớn hơn đối với công tác quản lý tài nguyên ở nước ta.
Việt Nam có diện tích tự nhiên khoảng 331.698km2, bờ biển dài hơn 3.260km, được xếp vào loại trung bình, đứng thứ 59/200 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Tuy nhiên, do dân số đông (hơn 90 triệu người, đứng thứ 13 thế giới) nên diện tích tự nhiên bình quân đầu người rất thấp (khoảng 0,38 ha), chỉ bằng 1/5 diện tích bình quân thế giới theo ranh giới (1,96 ha). Việt Nam có địa chất, địa hình, tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú về chủng loại, một số loại có trữ lượng lớn và tiềm năng tài nguyên có thể phát triển thành các ngành công nghiệp như dầu khí, bô xít, titan, than, đất hiếm...; tiềm năng năng lượng tái tạo lớn, đặc biệt là năng lượng gió, năng lượng mặt trời, địa nhiệt, sinh khối. Mặc dù tổng lượng nước mặt (khoảng 830 tỷ m3/năm) và nước ngầm (khoảng 63 tỷ m3/năm) khá lớn, nhưng do địa hình hẹp và nhiều vùng dốc ra biển nên hơn 60% lượng nước mặt có nguồn gốc từ nước ngoài, do đó tình trạng thiếu nước theo vùng và theo mùa vẫn xảy ra, đôi khi nghiêm trọng. Trải dài trên nhiều vĩ độ, từ nhiệt đới ẩm đến cận nhiệt đới, với nhiều vùng núi cao, Việt Nam có nhiều hệ sinh thái rừng với sự đa dạng và phong phú về các loài động, thực vật. Với vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán rộng trên 1 triệu km2, Việt Nam thực sự là quốc gia biển có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản, có vị thế rất lớn để phát triển giao thông, cảng biển, du lịch...
Nhận thức được tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển và phồn vinh của đất nước, nhiều năm qua Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến công tác quản lý tài nguyên. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và các văn kiện Đại hội Đảng đều đề cập đến vấn đề quản lý tài nguyên, nhất là đất đai và khoáng sản. Chính phủ Trung ương cũng đã ban hành một số nghị quyết chuyên đề về các nhóm tài nguyên, trong đó có Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã định hướng toàn diện công tác quản lý tài nguyên đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050. Hệ thống tổ chức nhà nước về quản lý tài nguyên được hình thành đồng bộ từ trung ương đến địa phương. Nhà nước cũng đã bố trí vốn từ ngân sách, ban hành nhiều cơ chế huy động vốn trong xã hội để đầu tư cho công tác quản lý tài nguyên, nhất là công tác điều tra cơ bản, kiểm kê, thống kê, đánh giá tài nguyên. Các chủ trương, chính sách, pháp luật về quản lý tài nguyên không ngừng được đổi mới, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cơ chế, công cụ, biện pháp quản lý tài nguyên cũng có những thay đổi tích cực, đặc biệt là cơ chế tiếp cận tài nguyên. Quan hệ cung cầu, cơ chế định giá, đấu giá, đấu thầu bước đầu đã hình thành, tạo ra những thay đổi trong quản lý tài nguyên theo hướng phù hợp hơn với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đất đai, khoáng sản, nguồn nước, rừng, thủy sản đã được điều tra, đánh giá, quy hoạch, cân đối phục vụ mục đích, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển. Nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên đóng góp quan trọng vào ngân sách Nhà nước hằng năm. Hoạt động sản xuất, kinh doanh liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên đã tạo việc làm, thu nhập cho đông đảo người dân trên cả nước. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên đã chuyển dịch theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững hơn. Chú trọng vấn đề bảo vệ, phục hồi, tái tạo tài nguyên thiên nhiên; đầu tư phát triển các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu thay thế được quan tâm.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn