Chi hội · Nov 26, 2024 · Đọc 5 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Nov 26, 2024 · Đọc 5 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Chỉ số quản trị tài nguyên thiên nhiên là một công cụ quan trọng để đánh giá hiệu quả quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Chỉ số này giúp xác định mức độ bền vững trong việc sử dụng tài nguyên, từ đó đề xuất các biện pháp cải thiện và phát triển bền vững. Chỉ số này cũng cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng về tình trạng tài nguyên và các vấn đề cần giải quyết. Tính minh bạch và sự tham gia của cộng đồng là những yếu tố chính trong việc nâng cao chỉ số này.
Chỉ số quản trị tài nguyên thiên nhiên là "con số biểu thị sự biến động", tiêu chí dùng để nhận dạng, đo lường, đánh giá mức độ và xếp hạng hiệu quả của một quốc gia hoặc một chủ thể nào đó trong quá trình quản lý nguồn tài nguyên này. Các chỉ số cụ thể về quản trị tài nguyên thiên nhiên là công khai, được nghiên cứu, bổ sung và công bố theo từng giai đoạn, dựa trên các phương pháp phân tích và tài liệu không hoàn toàn giống nhau.
Trong giai đoạn hiện nay, các chỉ tiêu cơ bản thường được sử dụng trong báo cáo đánh giá năng lực quản lý tài nguyên thiên nhiên của quốc gia tập trung vào bốn tiêu chí, đó là: hệ thống pháp luật; mức độ minh bạch thông tin; thanh tra, giám sát và năng lực chung về môi trường.
Đây là chỉ số cơ bản; Nó thiết lập cơ sở pháp lý cho các hoạt động hành chính. Hệ thống pháp luật được xem xét toàn diện, cả về nội dung và cơ chế thực thi, điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Mức độ minh bạch thông tin đảm bảo bản chất dân chủ của xã hội, là giải pháp quan trọng khắc phục tình trạng tham nhũng, thể hiện quyền và cơ chế tiếp thu trí tuệ của người dân trong tham gia quản lý tài chính nhà nước, là nguyên liệu thô tự nhiên.
Chỉ số này được tính toán dựa trên phương thức, hiệu quả hoạt động của Nhà nước cũng như cơ chế thực tiễn thực hiện quyền giám sát của nhân dân trong quá trình quản lý khai thác, sử dụng, tái tạo và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của Nhà nước.
Môi trường tổng thể là chỉ số chung, được đo lường dựa trên mối tương quan giữa chất lượng tài nguyên thiên nhiên thu được từ quá trình quản lý với các chỉ số môi trường khác. Chỉ số này cũng là kết quả thực tế của các chỉ số trên khi Nhà nước thực hiện chức năng hành chính.
Trong quá trình quản lý tài nguyên thiên nhiên, cũng đã có những bộ chỉ số về quản lý tài nguyên thiên nhiên được nghiên cứu và công bố. Một ví dụ điển hình là bộ chỉ số quản lý tài nguyên thiên nhiên do Trung tâm Mạng lưới thông tin khoa học quốc tế (CIESIN) thuộc Đại học Columbia nghiên cứu. Bộ chỉ số này được đưa ra vào năm 2006 với 4 chỉ số được CIESIN tính toán dựa trên dữ liệu từ các nguồn quốc tế, đó là:
Chỉ số này, do CIESIN phát triển, đánh giá xem một quốc gia có bảo vệ ít nhất 10% tổng số môi trường sống của mình (ví dụ như sa mạc, rừng, đồng cỏ, sinh vật thủy sinh và lãnh nguyên) hay không. Chỉ số Bảo vệ Vùng sinh thái được thiết kế để nắm bắt tính toàn diện của cam kết của chính phủ đối với việc bảo tồn môi trường sống và bảo vệ đa dạng sinh học. Cơ sở cho chỉ số này được cung cấp bởi Quỹ Động vật hoang dã Thế giới và Trung tâm Giám sát Thế giới của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc.
Chỉ số này đo lường tỷ lệ dân số có khả năng tiếp cận các cơ sở tách chất thải của con người khỏi chất thải tiếp xúc với động vật và côn trùng, được tính toán từ dữ liệu của Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc.
Chỉ số này đo lường tỷ lệ phần trăm dân số có thể tiếp cận ít nhất 20 lít nước cho mỗi người mỗi ngày từ các nguồn "cải thiện" (kết nối hộ gia đình, đường ống tiêu chuẩn công cộng, giếng khoan, giếng đào được bảo vệ), suối được bảo vệ và hệ thống thu gom nước mưa) trong phạm vi 1 km tính từ nơi cư trú của người dùng. Dữ liệu cho chỉ số được tính toán từ dữ liệu của Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc.
Chỉ số này được tính toán bằng cách sử dụng dữ liệu từ Ban Dân số thuộc Vụ Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc, bản phát hành NRMI 2006-2008 đã sử dụng số ca tử vong trên 1000 trẻ em từ 1 đến 4 tuổi (mx 1- 4)). Năm 2009, nhờ sự chỉ đạo của Ban Dân số, chỉ số này đã được thay đổi để xác định khả năng tử vong từ 1 đến 5 tuổi (4q1), có liên quan chặt chẽ đến mx (1-4). Vì nguyên nhân tử vong ở trẻ em từ 1-4 tuổi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nguyên nhân môi trường nên chỉ số này được coi là một hướng dẫn hữu ích về các điều kiện môi trường cơ bản.[3].
Chỉ số quản lý tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng trong việc lựa chọn mô hình, cũng như đánh giá mức độ hoạt động của Nhà nước trong việc thực hiện các chính sách, kế hoạch, mục tiêu của Nhà nước về quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn