Chi hội · Nov 15, 2024 · Đọc 9 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Nov 15, 2024 · Đọc 9 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Bài viết này cung cấp những điểm chính cần lưu ý trong quá trình thực hiện hợp đồng, giúp bạn đảm bảo hiệu quả và tránh rủi ro pháp lý. Khám phá các yếu tố quan trọng như xác định rõ ràng các điều khoản, đảm bảo tính hợp pháp và xử lý tranh chấp.
Sau khi ký kết hợp đồng, các bên có nghĩa vụ phải thực hiện các cam kết đã thỏa thuận. Do đó, việc giám sát thực hiện hợp đồng không chỉ nhằm phát hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ của đối tác mà còn nhằm ngăn ngừa bản thân doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ của mình đối với đối tác.
Tùy thuộc vào quy mô và cách thức hoạt động của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có kế hoạch riêng để giám sát việc thực hiện hợp đồng. Thông thường, các doanh nghiệp quy mô nhỏ không phải đối mặt với những vấn đề này vì các nhà quản lý luôn theo dõi chặt chẽ quá trình thực hiện hợp đồng, nhưng một doanh nghiệp quy mô lớn với số lượng hợp đồng lớn thì rất cần thiết. Thiết lập một quy trình chặt chẽ. Doanh nghiệp có thể được chia thành các phòng ban và sẽ có những người thực hiện chính ở từng giai đoạn khác nhau, nhưng cũng cần một người duy nhất để giám sát toàn bộ quá trình từ đầu đến cuối.
Điều quan trọng nhất là phải đảm bảo giám sát mọi mặt của hợp đồng, từ việc nhắc nhở đối tác thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, đến việc phối hợp giữa các phòng ban liên quan để thực hiện đúng nghĩa vụ với đối tác, xử lý nhanh chóng các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng và rút kinh nghiệm cho các hợp đồng sau. Việc hiểu rõ các rủi ro thường gặp trong quá trình thực hiện hợp đồng sẽ giúp doanh nghiệp giám sát vấn đề này tốt hơn, giúp hạn chế tốt nhất các thiệt hại xảy ra.
Đầu tiên, rủi ro đối tác vi phạm nghĩa vụ hợp đồng:
Khi đối tác vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, tức là không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ mà mình có trách nhiệm thực hiện trong hợp đồng, doanh nghiệp cần xem xét lại quyền lợi và nghĩa vụ hợp đồng của các bên đối với hành vi vi phạm tương ứng, hiểu rõ hậu quả pháp lý của từng hành vi vi phạm, từ đó có hành động thích hợp để giải quyết vấn đề.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chế tài đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng bao gồm: tịch thu tài sản, buộc thực hiện hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng, bồi thường thiệt hại và tiền phạt vi phạm, lãi chậm trả. So với Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005 không có chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng mà thay vào đó có chế tài đình chỉ hợp đồng và bổ sung chế tài tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng để các bên linh hoạt trong việc thực hiện.
Tương ứng với mỗi chế tài xử phạt, pháp luật quy định những trường hợp áp dụng khác nhau, do đó khi áp dụng, các bên phải hiểu rõ các quy định của pháp luật để lựa chọn chế tài xử phạt phù hợp và có lợi nhất, hoặc các bên phải ghi rõ Điều kiện áp dụng chế tài xử phạt trong hợp đồng. Đồng thời, khi áp dụng, doanh nghiệp phải thông báo cho bên vi phạm, tránh tình trạng doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ thông báo cho bên đã vi phạm trước đó.
Thứ hai, thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng:
Một vấn đề quan trọng trong quá trình thực hiện hợp đồng là xác định thời điểm chuyển giao rủi ro. Nghĩa là xác định thời điểm người bán phải chịu tổn thất và thiệt hại của hàng hóa và thời điểm những tổn thất và thiệt hại đó được chuyển cho người mua. Trừ khi các bên thỏa thuận về thời điểm chuyển giao rủi ro cụ thể trong hợp đồng, thời điểm này thường là thời điểm các bên giao và nhận hàng.
Theo quy định tại Điều 441 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm chuyển rủi ro là thời điểm giao tài sản hoặc thời điểm hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản phải đăng ký. Ngoài ra, Luật Thương mại quy định chi tiết hơn rằng trong từng trường hợp, đối với các hợp đồng không có địa điểm giao hàng cụ thể thì thời điểm chuyển rủi ro là thời điểm hàng hóa được giao cho người vận chuyển đầu tiên. Trường hợp hàng hóa được giao cho người nhận hàng để giao chứ không phải cho người vận chuyển thì rủi ro được chuyển cho người mua trong trường hợp người mua nhận được chứng từ quyền sở hữu hoặc người mua xác nhận quyền sở hữu hàng hóa và một số trường hợp đặc biệt khác.
Tuy nhiên, Luật thương mại cũng quy định trách nhiệm của các bên trong một số trường hợp không phụ thuộc vào thời điểm chuyển giao rủi ro, chẳng hạn như: trường hợp hàng hóa có khuyết tật phát sinh trước thời điểm chuyển giao rủi ro, nếu bên mua biết hoặc phải biết về khuyết tật đó thì bên mua phải chịu trách nhiệm, trừ trường hợp bên mua không biết hoặc không được phép biết thì bên bán phải chịu trách nhiệm về khuyết tật này, nhưng bên mua chỉ có thời hạn 3 giờ, 6 hoặc 9 tháng (tùy từng trường hợp) để khiếu nại về khuyết tật hàng hóa, ngoài thời hạn khiếu nại này thì bên bán được miễn trách nhiệm. Trường hợp hàng hóa có khuyết tật phát sinh sau thời điểm chuyển giao rủi ro nhưng do bên bán vi phạm hợp đồng thì bên bán phải chịu trách nhiệm.

Thứ ba, rủi ro do sự kiện bất khả kháng:
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả thi. Theo quy định tại Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Trên thực tế, trừ khi các bên ngầm đồng ý rằng một sự kiện là bất khả kháng, việc chứng minh một sự kiện có phải là bất khả kháng hay không rất dễ gây ra tranh chấp vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên. Ví dụ, nếu hỏa hoạn xảy ra do sự vô trách nhiệm của con người hoặc do doanh nghiệp không đáp ứng các điều kiện về phòng cháy chữa cháy thì sự kiện này không phải là sự kiện bất khả kháng vì nó xuất phát từ nguyên nhân chủ quan và là hậu quả trực tiếp của việc ý thức phòng ngừa kém.
Trong các trường hợp khác, nếu một bên vi phạm nghĩa vụ của mình do sự kiện bất khả kháng nhưng không thực hiện nghĩa vụ thông báo cho bên bị vi phạm thì bên vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm với bên bị vi phạm về những thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra.
Trong trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng do bên thứ ba vi phạm do sự kiện bất khả kháng. Bên thứ ba thường là nhà cung cấp nguyên vật liệu, hàng hóa hoặc doanh nghiệp logistics. Hiện nay, pháp luật Việt Nam không quy định bên vi phạm nghĩa vụ của mình được miễn trách nhiệm do bên thứ ba vi phạm nghĩa vụ của mình do sự kiện bất khả kháng. Tuy nhiên, đây là vấn đề mà doanh nghiệp thường gặp phải vì các mối quan hệ kinh doanh hiện nay đều dựa trên chuỗi cung ứng và các bên chỉ là một mắt xích trong đó, và đặc biệt là trong các mối quan hệ độc quyền, doanh nghiệp không thể tìm được giải pháp thay thế.
Do đó, liên quan đến vấn đề miễn trừ trách nhiệm, doanh nghiệp cần soạn thảo kỹ điều khoản miễn trừ trách nhiệm, dự đoán tình huống thực tế có thể xảy ra và đàm phán rõ ràng, chi tiết để hạn chế tối đa phát sinh tranh chấp thay vì dựa hoàn toàn vào luật pháp.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn
Thứ tư, rủi ro do thay đổi hoàn cảnh cơ bản:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng dài hạn, sẽ có những trường hợp các bên không lường trước được những tình huống mà khi xảy ra sẽ làm thay đổi căn bản quyền và nghĩa vụ của các bên. Mặc dù nguyên tắc của hợp đồng là các bên phải "tuân theo thỏa thuận", nhưng nếu thực hiện, một bên có thể bị thiệt hại nghiêm trọng, mất đi sự cân bằng của hợp đồng và không đạt được mục đích ban đầu.
Hiện nay, Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các điều kiện áp dụng hoàn cảnh thay đổi cơ bản như sau: Do nguyên nhân khách quan; Các bên không thể lường trước; Hoàn cảnh đã thay đổi đến mức nếu biết trước thì các bên đã không giao kết hợp đồng hoặc đã giao kết hợp đồng với nội dung hoàn toàn khác; Việc tiếp tục thực hiện sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; Bên bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết nhưng không thể ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tác động. Trong trường hợp này, pháp luật cho phép bên bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng. Nếu các bên không thỏa thuận được việc sửa đổi hợp đồng thì các bên có thể yêu cầu tòa án chấm dứt hợp đồng hoặc Sửa đổi nội dung hợp đồng để cân bằng lợi ích của các bên.