Chi hội · Dec 9, 2024 · Đọc 7 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Dec 9, 2024 · Đọc 7 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Bài viết này cung cấp thông tin chi tiết về thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân trong quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Hiểu rõ thẩm quyền giúp bạn xác định đúng cơ quan giải quyết, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và đảm bảo quá trình xử lý tranh chấp diễn ra suôn sẻ và hiệu quả.
Theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019 về tranh chấp lao động thì: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động”.
Và trong đó có phân chia tranh chấp lao động thành 02 loại là tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể, từ đó có những quy định về chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, trình tự, thủ tục giải quyết đối với hai loại tranh chấp này. Như vậy, các tranh chấp lao động cá nhân trong quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam giữa người lao động nước ngoài (“NLĐNN”) và người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) sẽ áp dụng như sau:
2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân trong quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Việc giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân trong quan hệ lao động (QHLĐ) có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam được tiến hành bởi hòa giải viên lao động và Tòa án nhân dân.
a) Hòa giải viên lao động
Hòa giải viên lao động là chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm để hòa giải tranh chấp lao động, tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề; hỗ trợ phát triển quan hệ lao động (Điều 184 BLLĐ năm 2019). Đây là điểm mới của BLLĐ năm 2019 so với BLLĐ năm 2012 khi thẩm quyền bổ nhiệm hòa giải viên lao động thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chứ không phải do “sự đề cử của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện”[2]. Như vậy, hòa giải viên lao động Việt Nam chỉ có ở cấp tỉnh mà không có hòa giải viên lao động cấp quốc gia.
Để trở thành hòa giải viên lao động, cá nhân phải đáp ứng đầy đủ 04 điều kiện về kinh nghiệm, năng lực chuyên môn…theo quy định tại Nghị định số 145/2020/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều BLLĐ về điều kiện lao động và quan hệ lao động.
b) Tòa án nhân dân
Tranh chấp trong QHLĐ cá nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam thuộc trường hợp tranh chấp lao động có yếu tố nước ngoài nên thẩm quyền của Tòa án được xác định theo 02 bước:
- Bước 1: Xác định thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam đối với tranh chấp lao động đó theo quy định tại Chương XXXVIII Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bước 2: Xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể theo quy định tại khoản 2 Điều 469 và Chương 3 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thứ nhất, thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam đối với các tranh chấp quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài được xác định như sau:
- Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Bị đơn trong tranh chấp về QHLĐ có yếu tố nước ngoài là người nước ngoài hoặc NSDLĐ của họ. Trường hợp này chỉ áp dụng đối NSDLĐ là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Trường hợp NSDLĐ là pháp nhân Việt Nam hoặc pháp nhân nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Nam được áp dụng theo trường hợp thứ hai.
- Bị đơn là cơ quan tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức có chi nhánh văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của văn phòng chi nhánh đó tại Việt Nam. Bị đơn trong trường hợp này chỉ có thể là NSDLĐ của NLĐNN.
- Vụ việc về quan hệ dân sự mà xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Tòa án Việt Nam sẽ có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp trong QHLĐ của NLĐNN mà quan hệ đó được thiết lập, thực hiện, thay đổi chấm dứt tại lãnh thổ Việt Nam.
- Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền, nghĩa vụ cơ quan tổ chức, các nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam. Đây là trường hợp Hợp đồng lao động (HĐLĐ) của NLĐNN được ký kết và sẽ được thanh lý ở nước ngoài nhưng NLĐNN được cử đến Việt Nam để làm việc trong diện di chuyển nội bộ trong doanh nghiệp.
Thứ hai, thẩm quyền cụ thể của Tòa án khi giải quyết tranh chấp quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài sẽ áp dụng theo thủ tục thông thường.
- Thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc: Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động đối với tranh chấp phát sinh giữa NLĐNN và NSDLĐ bao gồm các trường hợp sau:
Tranh chấp lao động cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ mà Hòa giải viên lao động hòa giải thành công nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hoặc hòa giải không thành, không tiến hành hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các trường hợp tranh chấp không nhất thiết phải qua Hòa giải tại cơ sở như: Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ, tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa NLĐ và NSDLĐ, về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng là động, tranh chấp giữa NLĐ là người giúp việc gia đình với NSDLĐ.
- Thẩm quyền của Tòa án theo các cấp: Tòa án nhân dân tỉnh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động giữa NLĐNN và NSDLĐ giải quyết (Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Đối với tranh chấp lao động giữa NLĐNN và NSDLĐ Việt Nam có thể tiến hành các thủ tục như: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan, triệu tập người làm chứng, người giám định, thu thập, cung cấp chứng cứ hoặc yêu cầu khác (Luật Tương trợ tư pháp 2007). Hiện nay Việt Nam đã ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp với một số nước như An-giê-ri, Trung Quốc, Cuba, Bê-la-rút, Liên bang Nga,… nên vấn đề ủy thác tư pháp liên quan đến vụ án lao động sẽ áp dụng các hiệp định trên, trường hợp có yêu cầu ủy thác tư pháp giữa Việt Nam mà nước ngoài chưa có Hiệp định về tương trợ tư pháp thì hoạt động ủy thác tư pháp sẽ được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế (Khoản 2 điều 4 Luật Tương trợ tư pháp 2007).
- Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ sẽ được xác định theo Điều 39 và Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn