Chi hội · Nov 28, 2024 · Đọc 4 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Nov 28, 2024 · Đọc 4 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Để bảo vệ bí mật thương mại, các doanh nghiệp và cá nhân có thể thực hiện các biện pháp như ký kết thỏa thuận bảo mật, sử dụng công nghệ bảo mật và đào tạo nhân viên về bảo mật thông tin. Các biện pháp này giúp ngăn chặn việc tiết lộ thông tin quan trọng và duy trì lợi thế cạnh tranh.
1. Tự bảo vệ
Nhìn vào những tập đoàn lớn tham gia vào ngành thực phẩm và đồ uống đã phát triển và lớn mạnh nhờ những bí quyết kinh doanh độc đáo, chúng ta có thể thấy những cái tên nổi bật nhất là Coca Cola, KFC, Lotteria hay Mcdonald's... Tất cả những tập đoàn lớn này đều sử dụng biện pháp bảo vệ bí mật kinh doanh cực kỳ nghiêm ngặt để giữ kín công thức của mình, nhưng có một điểm chung là họ đều sử dụng các phương pháp tự bảo vệ.
Phương thức tự bảo vệ này theo pháp luật Việt Nam được ghi nhận tại Điều 198, chương XVI: Quy định chung về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 là quyền tối cao của chủ sở hữu trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình, bao gồm
Ngoài ra, chủ sở hữu bí mật kinh doanh cũng có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng chế định dân sự hoặc chế định hành chính để xử lý hành vi vi phạm cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh năm 2018. Nếu hành vi vi phạm bí mật kinh doanh đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì hành vi đó cũng có thể bị điều chỉnh bởi pháp luật hình sự.
2. Đăng ký bằng sáng chế
Do hiện nay chưa có quy định nào về việc đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với bí mật kinh doanh nên ngoài việc tự bảo vệ mình, chủ sở hữu bí mật kinh doanh còn có thể bảo hộ bí mật kinh doanh thông qua việc đăng ký sáng chế.
Tuy nhiên, việc đăng ký dưới dạng sáng chế luôn có những bất lợi nhất định.
Thứ nhất, tại Việt Nam, việc đăng ký sáng chế sẽ rất khó khăn vì sản phẩm trí tuệ phải chưa từng xuất hiện trước đó, tức là phải hoàn toàn mới và có tính sáng tạo cao.
Thứ hai, khi đăng ký sáng chế, sẽ luôn có thời hạn nhất định và sẽ có lệ phí duy trì bằng sáng chế, cụ thể đối với sáng chế, thời hạn sẽ là 20 năm kể từ ngày nộp đơn. Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có thời hạn là 10 năm kể từ ngày nộp đơn. Sau thời hạn này, chủ sở hữu sẽ không được gia hạn (theo Thông tư 16/2016/TT-BKHCN) và quyền sở hữu trí tuệ sẽ không được bảo hộ. Hơn nữa, đây là một bất lợi rất lớn nếu cá nhân, doanh nghiệp muốn phát triển bí mật kinh doanh đó để tiến hành kinh doanh lâu dài trong tương lai (theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 93 và Khoản 1 Điều 94 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi năm 2009).
3. Ngoại lệ đối với bí mật thương mại
Trong phần này, chủ sở hữu không được cấm các thực thể khác thực hiện các hành vi sau đây mặc dù chủ sở hữu tin rằng đây là hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của mình.
Các hành vi đó được quy định tại Khoản 3 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005:
“a) Tiết lộ, sử dụng bí mật kinh doanh thu được mà không biết và không có nghĩa vụ phải biết rằng bí mật kinh doanh đó do người khác thu được một cách bất hợp pháp;
b) Tiết lộ dữ liệu bí mật để bảo vệ công chúng theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Luật này;
c) Sử dụng dữ liệu bí mật quy định tại Điều 128 của Luật này không nhằm mục đích thương mại;
d) Tiết lộ, sử dụng bí mật kinh doanh do mình tạo ra;
d) Tiết lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra từ việc phân tích, đánh giá các sản phẩm được phân phối hợp pháp, với điều kiện là người phân tích, đánh giá không có thỏa thuận nào khác với chủ sở hữu bí mật kinh doanh hoặc người bán hàng."
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn
React với bài viết