Chi hội · Nov 25, 2024 · Đọc 6 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Nov 25, 2024 · Đọc 6 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Thu thập, quản lý và công bố thông tin môi trường là những bước quan trọng trong bảo vệ môi trường. Quá trình này giúp nâng cao nhận thức của công chúng, hỗ trợ các quyết định chính sách và thúc đẩy các hành động bảo vệ môi trường. Tính minh bạch trong thông tin cũng tăng cường sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan vào các nỗ lực bảo vệ môi trường.
“Thông tin môi trường là dữ liệu và dữ liệu môi trường dưới dạng ký hiệu, chữ cái, số, hình ảnh, âm thanh hoặc các dạng tương tự.” (Khoản 28 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014).
“Thông tin môi trường bao gồm số liệu, dữ liệu về thành phần môi trường, tác động đến môi trường, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường”; “Cơ sở dữ liệu môi trường là tập hợp thông tin về môi trường được xây dựng, cập nhật và duy trì nhằm đáp ứng yêu cầu truy cập, sử dụng thông tin phục vụ mục đích bảo vệ môi trường và phục vụ lợi ích công cộng.” (Khoản 1 Điều 128 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014).
Để kiểm soát ô nhiễm môi trường, việc có thông tin môi trường đầy đủ và chính xác là đặc biệt quan trọng. Nó cho phép các đơn vị kiểm soát ô nhiễm môi trường nắm bắt được tình hình hiện tại của môi trường cũng như những thay đổi về chất lượng môi trường; mối tương tác giữa môi trường và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội... từ đó chủ động trong việc ngăn ngừa ô nhiễm và xử lý các vấn đề về môi trường.g.
Do đặc điểm của thông tin trong lĩnh vực môi trường là rất rộng và đa dạng, liên quan đến nhiều thành phần môi trường, tồn tại trên phạm vi không gian rộng lớn, với sự vận động và thay đổi liên tục của các yếu tố tự nhiên, nên việc thu thập thông tin môi trường không phải là vấn đề đơn giản. Hoạt động này luôn đòi hỏi sự hỗ trợ của các biện pháp, phương pháp, công cụ và phương tiện kỹ thuật đặc biệt, được biết đến với các hoạt động giám sát môi trường, các chương trình giám sát môi trường và các hệ thống giám sát môi trường.Ng quan trắc môi trường (điều 121, 123, 124 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014).
Mỗi thành phần môi trường khác nhau có cách thu thập và hiển thị thông tin khác nhau. Các thông số cơ bản phản ánh các yếu tố đặc trưng của môi trường nhằm mục đích đánh giá và theo dõi diễn biến chất lượng môi trường và lập báo cáo về tình trạng hiện tại của môi trường được gọi là chỉ số môi trường. Đây là thuật ngữ pháp lý - kỹ thuật chuyên ngành trong lĩnh vực môi trường.
Thông tin về hiện trạng môi trường, diễn biến chất lượng môi trường, tác động của hoạt động phát triển đến môi trường, tình hình thực hiện pháp luật về môi trường, dự báo thách thức về môi trường, định hướng, giải pháp. Phương pháp, biện pháp quản lý, bảo vệ môi trường... được thể hiện trong hai loại báo cáo: Báo cáo bảo vệ môi trường cấp tỉnh và báo cáo hiện trạng môi trường (Mục 3 Chương XIII Luật Bảo vệ môi trường năm 2014).
Thông tin môi trường phải được thu thập và quản lý theo quy định của pháp luật. Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương thu thập, quản lý thông tin môi trường và xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia. Các bộ, ngành, ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thu thập, quản lý thông tin môi trường, xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường của các bộ, ngành, địa phương và tích hợp với các cơ quan khác. Cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia. Các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, làng nghề, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ lập hồ sơ môi trường, quản lý thông tin về tác động đến môi trường từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (Điều 129 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014).
Thông tin môi trường phải được công bố, cung cấp cho các đối tượng có liên quan, quan tâm theo quy định của pháp luật (Điều 130 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014). Theo đó, tổ chức, cá nhân quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. có trách nhiệm báo cáo thông tin môi trường trong phạm vi quản lý của mình cho cơ quan quản lý môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này có trách nhiệm cung cấp thông tin môi trường liên quan đến hoạt động của mình cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã. Các bộ, ngành có trách nhiệm hằng năm cung cấp thông tin môi trường liên quan đến ngành, lĩnh vực quản lý cho Bộ Tài nguyên và Môi trường.g.
Về nguyên tắc, thông tin về môi trường phải được công khai (trừ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước), bao gồm: Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường, thông tin về nguồn thải, chất thải, xử lý chất thải; Khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; báo cáo về môi trường; kết quả thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường. Hình thức công khai phải bảo đảm thuận tiện cho các đối tượng có liên quan tiếp nhận thông tin. Cơ quan công bố thông tin về môi trường phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin (Điều 131 Luật Bảo vệ môi trường năm 2019). 2014).
Ngoài ra, Ủy ban nhân dân cấp xã còn có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn công khai thông tin về môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với cộng đồng dân cư. Trong một số trường hợp, đại diện cộng đồng dân cư trên địa bàn chịu tác động môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quyền yêu cầu chủ sở hữu cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cung cấp thông tin về bảo vệ môi trường thông qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản (Khoản 1 Điều 146 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014).
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn
React với bài viết