Chi hội · Nov 25, 2024 · Đọc 7 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Nov 25, 2024 · Đọc 7 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Kiểm soát ô nhiễm môi trường đòi hỏi sự kết hợp của nhiều phương pháp và công nghệ khác nhau để giảm thiểu tác động tiêu cực từ các nguồn ô nhiễm. Các biện pháp bao gồm giám sát chất lượng không khí, nước và đất, cùng với việc triển khai các công nghệ xử lý và quản lý chất thải tiên tiến để bảo vệ sức khỏe con người và duy trì cân bằng sinh thái.
So với khái niệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường có nội hàm rộng hơn, được thể hiện ở nhiều phương diện. Vậy kiểm soát ô nhiễm môi trường là gì? Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường là gì? Dưới đây là nội dung làm rõ vấn đề trên cụ thể như sau:
Luật Bảo vệ Môi trường 2020; Nghị định 08/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường
Kiểm soát ô nhiễm là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm. (Khoản 22, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020).
Để kiểm soát ô nhiễm môi trường, việc có thông tin môi trường đầy đủ và chính xác là đặc biệt quan trọng. Nó cho phép các đơn vị kiểm soát ô nhiễm môi trường nắm bắt được tình trạng hiện tại của môi trường cũng như những thay đổi về chất lượng môi trường.
Thông tin môi trường phải được thu thập và quản lý theo quy định của pháp luật. Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương thực hiện thu thập, quản lý thông tin môi trường và xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia. Hoạt động này luôn đòi hỏi sự hỗ trợ của các biện pháp, phương pháp, công cụ, phương tiện kỹ thuật đặc thù, được biết đến trong hoạt động quan trắc môi trường, chương trình quan trắc môi trường, hệ thống quan trắc môi trường.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân công khai thông tin về môi trường theo quy định trên cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức hoặc bằng hình thức khác, bảo đảm thuận tiện cho các đối tượng có liên quan tiếp nhận thông tin. Việc công khai thông tin về môi trường phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. (Điều 114, Điều 115, Điều 116 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020)
Quy hoạch bảo vệ môi trường bao gồm hai cấp: quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia và quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh và phải bảo đảm các nguyên tắc sau: Phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia bảo đảm phát triển bền vững; Bảo đảm thống nhất với quy hoạch sử dụng đất. Căn cứ lập Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật về quy hoạch và các căn cứ sau: Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia trong cùng thời kỳ phát triển; Kịch bản biến đổi khí hậu trong cùng thời kỳ phát triển. (Khoản 1 Điều 23, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020)
Trách nhiệm lập quy hoạch bảo vệ môi trường thuộc về Bộ Tài nguyên và Môi trường; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, theo đó Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức lập quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức xây dựng nội dung hoặc lập quy hoạch bảo vệ môi trường trên địa bàn. Trong quá trình lập quy hoạch bảo vệ môi trường phải tiến hành lấy ý kiến, tham vấn các đơn vị có liên quan.
Quy định kỹ thuật về môi trường là quy định bắt buộc áp dụng giới hạn các thông số về chất lượng môi trường, hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, thiết bị, sản phẩm, hàng hóa, chất thải và các yêu cầu khác. Yêu cầu kỹ thuật, quản lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. (Khoản 10, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2020)
Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là công cụ chủ yếu để kiểm soát ô nhiễm, do đó việc ban hành kịp thời và khả thi các quy chuẩn kỹ thuật môi trường là yêu cầu bắt buộc. Việc thiếu các quy chuẩn kỹ thuật môi trường sẽ là rào cản lớn nhất đối với công tác quản lý và bảo vệ môi trường, vì không có cơ sở khoa học và pháp lý để xác định chất lượng thực tế của môi trường và kiểm soát các tác động tiêu cực đến môi trường.
Rác thải Chất thải nói chung là chất ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc dạng khác phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. (Khoản 18, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020)
Đối với mỗi loại chất thải khác nhau, dựa trên tác động của chất thải đó đến môi trường xung quanh, pháp luật có những quy định khác nhau về quản lý 2 loại chất thải: chất thải thông thường và chất thải nguy hại.
+ Quản lý chất thải nói chung: Ngoài các quy định chung về trách nhiệm quản lý chất thải, trước hết thuộc về chủ nguồn thải hoặc bên tiếp nhận quản lý chất thải theo hợp đồng chuyển giao trách nhiệm quản lý chất thải, luật còn quy định cụ thể về quản lý chất thải. Quản lý từng loại chất thải bao gồm chất thải rắn thông thường, nước thải, bụi và khí thải.
+ Quản lý chất thải nguy hại: Chủ nguồn thải chất thải nguy hại phải lập hồ sơ về chất thải nguy hại và đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh. Chỉ có tổ chức, cá nhân đủ điều kiện và có giấy phép mới được xử lý chất thải nguy hại.
Việc khắc phục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cũng được coi là một trong những biện pháp kiểm soát ô nhiễm. Việc xử lý nhằm mục đích ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường của các cơ sở, đồng thời ngăn chặn các đối tượng khác gây ô nhiễm môi trường. Trách nhiệm rà soát, phát hiện và xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được thực hiện hằng năm và theo trình tự sau: Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Chính phủ lập danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn.
Quyết định xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải được thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã nơi cơ sở có hoạt động gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và công khai cho cộng đồng dân cư biết để kiểm tra, điều tra, giám sát.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn