Chi hội · Dec 26, 2024 · Đọc 69 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Dec 26, 2024 · Đọc 69 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Khám phá thế giới đồ lưu niệm sôi động của Việt Nam với hướng dẫn toàn diện của chúng tôi về 08 mặt hàng phải có. Từ Áo dài thanh lịch và nón lá truyền thống đến gấm thêu tinh xảo và các sản phẩm lụa tinh tế, hãy khám phá di sản văn hóa phong phú của Việt Nam thông qua các nghề thủ công và ẩm thực độc đáo. Tìm hiểu nơi mua đồ lưu niệm đích thực, mẹo mua sắm của chuyên gia và ý nghĩa đằng sau mỗi mặt hàng để làm phong phú thêm trải nghiệm du lịch của bạn.
Khám phá Việt Nam không chỉ là về cảnh quan tuyệt đẹp và lịch sử phong phú của đất nước, mà còn là về việc mang một phần của nền văn hóa sôi động này trở về nhà. Cho dù bạn là người hâm mộ các sản phẩm thủ công truyền thống hay ẩm thực ngon, Việt Nam cung cấp vô số quà lưu niệm độc đáo lưu giữ bản chất của đất nước.
Trong hướng dẫn này, chúng ta sẽ tìm hiểu 08 món quà lưu niệm Việt Nam không thể bỏ qua, không chỉ làm phong phú thêm bộ sưu tập của bạn mà còn cung cấp thông tin chi tiết về cách mua quà lưu niệm thành công với lời khuyên của chuyên gia.
Áo dài là biểu tượng tinh túy của văn hóa Việt Nam. Trang phục thanh lịch này, chủ yếu được phụ nữ mặc, phản ánh di sản phong phú của Việt Nam. Được chế tác từ lụa sang trọng hoặc vải nhẹ, Áo dài tạo nên hình bóng duyên dáng.
Áo dài, trang phục truyền thống của Việt Nam, đã được cải biên từ "ngũ thân lập lĩnh" trong giai đoạn Tây hoá, hay còn được gọi là áo tân thời. Áo dài là quốc phục của đất nước Việt Nam, thể hiện nét văn hoá cũng như sự nữ tính, duyên dáng của người phụ nữ.
Bộ trang phục áo dài truyền thống sẽ bao gồm tay áo, cổ áo, tà áo và quần. Cổ áo thường cao khoảng 3cm, tay áo dài đến cổ tay, thân áo ôm sát cơ thể và được cài bằng nút một bên. Tà áo có hai tà, được xẻ từ eo cho đến gần cổ chân. Ngực và lưng thường có chiết li. Quần áo dài thường đến mắt cá chân hoặc có thể dài hơn cho đến gót chân, có ống quần rộng.
Áo dài nam cũng tương tự như áo dài nữ, nhưng vòng 2 không được thiết kế bo sát. Điều này tạo nên 1 kiểu dáng thẳng đứng làm toát lên vẻ nam tính và chín chắn.
Áo dài còn mang đậm triết lý nhân sinh của người Việt. Tà áo dài Việt Nam mang trong mình những ý nghĩa truyền thống vô cùng sâu sắc. Nó đã phát triển và biến đổi từ những chiếc áo ngũ thân cổ xưa. Ngày nay, tà áo dài vẫn gắn liền với những giá trị tinh thần và văn hóa đặc trưng của dân tộc.
Với chiếc áo ngũ thân của nam giới ngày xưa, các tà áo đại diện cho tứ thân và phụ mẫu. Đặc biệt, ngũ thân còn biểu hiện triết lý ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Áo lót màu trắng bên trong áo ngũ thân tượng trưng cho tinh thần và thân thể luôn trong sạch và thuần khiết.
Áo tứ thân của nữ giới thể hiện tứ đức của người phụ nữ: Công, dung, ngôn, hạnh. Hai tà trước áo được buộc lại với nhau thể hiện ý nghĩa vợ chồng, thể hiện tình thương và tôn trọng trong gia đình. Bốn tà áo còn tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu (cha mẹ chồng và cha mẹ vợ) mà người phụ nữ phải chăm sóc và kính trọng.
Năm chiếc khuy trên áo ngũ thân và tứ thân đại diện cho ngũ luân: phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, phu thê hữu biệt, trưởng ấu hữu từ, bằng hữu hữu tín. Đây là những quan điểm xây dựng cơ bản của con người trong tương tác với gia đình và xã hội.
Trang phục truyền thống của người Việt đã xuất hiện với nhiều biến thể, trong đó áo giao lĩnh (襖交領) và áo viên lĩnh (圓領) được xem là những trang phục phổ biến. Tuỳ vào hoàn cảnh và vị trí xã hội, người ta lựa chọn phù hợp giữa hai loại áo này.
Áo Nhật Bình là trang phục của Hoàng tộc, là thường phục của Hoàng Hậu, Phi tần và Công chúa. Áo Nhật Bình có nguyên mẫu là kiểu áo Đối khâm phi phong thời nhà Minh. Đây là dạng áo tứ thân khoác ngoài có cổ hình chữ nhật to bản, chạy dọc từ cổ đến ngực. Cổ áo được thêu cầu kỳ tinh xảo đi kèm với phụ kiện là chiếc cúc áo được làm bằng ngọc hoặc vàng. Phía dưới cổ áo có 2 dải dây được may thêm vào và buông xuống gọi là dải thùy lưu nhưng không phải áo nào cũng có dải thuỳ lưu. Vào thời Gia Long, bậc Hậu phi phải cài một Kim ước (đến nay vẫn chưa xác định rõ hình dạng). Đến thời Thiệu Trị, Kim ước được thay bằng Kim phượng. Lần thay đổi cuối cùng vào thời Nguyễn Mạt, Nhật Bình được đi kèm với khăn vành - dạng kết hợp thường thấy nhất mà chúng ta thấy hiện nay.
Tên “Nhật Bình” bắt nguồn từ việc hoa văn trang trí trên áo tạo thành một hình chữ nhật lớn trước ngực. Trên thân áo, các đồ án hoa văn chính hình tròn khép kín chiếm diện tích lớn thường được thêu là phượng ổ, loan ổ. Bên cạnh đó, các hoa văn phụ với ý nghĩa cát tường, tốt lành như chữ thọ, chữ phúc, bát bửu, hoa dây, hoa lựu… được thêu dưới chân áo có hoa văn sóng nước (thủy ba). Các hoa văn này có sự sắp xếp và thay đổi tùy theo địa vị, danh phận của người mặc áo. Tương tự như bố cục hoa văn, tay áo một số người sẽ có dải màu tượng trưng cho ngũ hành: lục, vàng, xanh, trắng, đỏ tượng trưng cho địa vị của người đó. Tuy nhiên, quy chế này không được áp dụng cho bậc Hoàng Hậu.

Nguồn ảnh: Ỷ Vân Hiên/ Hoa Sen Tú Kiều Phục
Khác với áo Nhật Bình, áo Tấc là loại lễ phục trang trọng thời Nguyễn thường được sử dụng trong các dịp trọng đại như kết hôn, lễ tết, tang lễ… Đây là loại trang phục phổ biến từ dân thường cho đến quan lại, vua chúa đều mặc vào thời Nguyễn. Với chất liệu phong phú có thể thay đổi linh hoạt theo thời tiết, vải gấm, đoạn (hay còn gọi là Satin, một loại vải được đặc trưng bởi bề mặt bóng mịn, bắt mắt, được áp dụng kỹ thuật dệt vân đoạn tạo nên sự đan kết chặt chẽ giữa các sợi ngang và sợi dọc) vào mùa đông, hoặc the (loại vải mỏng, nhẹ, thông thoáng, có kết cấu gần như voan nhưng không mềm mại bằng, thường được khoác ngoài) vào mùa hè.
Áo Tấc hay còn gọi là áo ngũ thân tay thụng, mặc cùng với quần dài, che thân từ cổ đến hoặc quá đầu gối. Phần tà áo chắp từ năm mảnh vải kết hợp với tay áo dài và thụng. Đây được xem là lễ phục trang trọng vào thời Nguyễn, ví von như “áo vest” ngày nay. Cái tên “áo Tấc” xuất phát từ việc phần viền áo rộng đúng 1 tấc, tức là 4cm.
Vào khoảng thời gian đó, người dân phải không được phép mặc trang phục có màu sắc giống quan lại. Hình ảnh của thời kỳ này mô tả rằng, người dân thường mặc áo tứ thân, ngũ thân hoặc các kiểu giao lĩnh, viên lĩnh kết hợp với váy.

Nguồn ảnh: Ỷ Vân Hiên/ Hoa Sen Tú Kiều Phục
Đây là cổ phục có hai vạt áo song song với nhau, được xẻ tà hai bên và thường dài đến chân váy của người mặc. Người ta sẽ mặc buông thõng hoặc dùng để làm áo khoác bên ngoài, do đó chúng ta có thể nhìn thấy được những lớp áo từ bên trong.
Sau khi ra đời, phiên bản đầu tiên của chiếc áo dài ngày nay được gọi là áo ngũ thân lập lĩnh, xuất hiện vào năm 1744 thời chúa Nguyễn Phúc Khoát tại Đàng Ngoài. Ông có ý định thống nhất hai Đàng và đã ra lệnh rằng các quan chức cấp cao phải mặc cùng một loại trang phục để phân biệt với người dân thường. Áo ngũ thân lập lĩnh đã từ đó được hình thành cơ bản qua những bộ trang phục này.

Nguồn ảnh: Ỷ Vân Hiên/ Hoa Sen Tú Kiều Phục
Áo Giao Lĩnh là kiểu áo có phía trước cổ là vạt bên trái buộc chéo sang nách áo bên phải. Áo Giao Lĩnh xuất hiện rất sớm ở Việt Nam, có lẽ vào khoảng thời kì Bắc thuộc lần thứ nhất trong thời Đông Hán, sau khi Mã Viện đánh bại khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
Trải qua nhiều thế kỉ biến động, đến tận thời kỳ nhà Nguyễn, loại áo Giao Lĩnh vẫn tồn tại với vị trí độc tôn với vai trò là dạng thức của các áo lễ phục cao quý, dù áo Ngũ Thân cổ đứng đang chiếm thế thượng phong. Có thể nói, loại áo này mới chính là “áo cổ truyền” chuẩn theo ý nghĩa đối với người Việt vậy.

Nguồn ảnh: Hoa Niên - Năm Tháng Tươi Đẹp, Vietnam Centre/ Hoa Sen Tú Kiều Phục
Đến năm 1930, khi hoạ sĩ Nguyễn Cát Tường tạo ra một kiểu áo dài mới - Áo dài Le Mur, dựa trên những đặc điểm của áo Châu Âu. Áo dài Le Mur có kiểu cổ sen, chỉ còn hai tà và tay phồng, ôm sát cơ thể và có nhiều màu sắc sặc sỡ. Tuy nhiên, áo này đã bị ngưng sử dụng vào năm 1943 do gặp phải đánh giá tiêu cực từ dư luận.



Sau đó, hoạ sĩ Lê Phổ đã khắc phục những hạn chế của Áo dài Le Mur để phù hợp với văn hoá và bản sắc người Việt. Áo dài Lê Phổ kết hợp giữa áo dài Le Mur, áo ngũ thân và áo tứ thân, tạo nên một kiểu áo dài vừa mang nét hiện đại, vừa kết hợp đường may cổ kính, nhận được sự hoan nghênh và đón nhận nhiệt tình từ nhiều phụ nữ.

Năm 1958, áo dài của bà Trần Lệ Xuân đã xuất hiện, nhưng lại gặp phải chỉ trích vì kiểu cổ áo may kiểu thuyền và khoét hở nhiều phần cổ. Từ năm 1960, áo dài tay raglan đã ra đời, giải quyết được nhược điểm nhăn ở hai bên nách. Và dần dà, theo thời gian, áo dài đã trải qua nhiều sự cải tiến về kiểu dáng, từ tà áo, tay áo cho đến cổ áo. Quần cũng thay đổi từ ống rộng, dài đến quần ngắn.

Từ năm 1975 đến nay, định kiến về việc thay đổi kiểu dáng áo dài dần dần được mở rộng và chấp nhận nhiều hơn. Áo dài đã trở thành trang phục phổ biến trên đường phố, tại trường học, chùa chiền và các lễ hội. Nó không chỉ được yêu thích trong nước mà còn vươn xa hơn, trở thành biểu tượng trang phục đại diện cho đất nước Việt Nam trên thế giới.
Trong dòng các loại vải để may áo dài, vải lụa luôn được xem là lựa chọn hàng đầu. Vải lụa được tạo nên từ tơ tằm tự nhiên, không gây kích ứng trên da và có độ mềm mịn, động bóng tự nhiên. Hiện nay, có rất nhiều loại vải lụa được sử dụng, bao gồm lụa Việt Nam, lụa Hàn Quốc, lụa Nhật...
Ưu điểm của vải lụa là sự tự nhiên và ánh sáng tự nhiên mà nó mang lại, cùng với độ mềm mại và độ rũ nhất định. Do được làm từ tơ tằm tự nhiên, vải lụa có khả năng thấm hút mồ hôi cực kỳ tốt, giúp da luôn thoáng khí.







Ngoài vải lụa, vải chiffon cũng là một lựa chọn phổ biến để may áo dài. Chất liệu này cũng mềm mại, có độ rũ mỏng nhẹ, tạo nên sự nữ tính, thướt tha cho những tà áo dài. Đối với những người không thường xuyên mặc áo dài, vải chiffon cũng là một sự lựa chọn thích hợp.
Ưu điểm của vải voan là trọng lượng nhẹ, mềm mại, luôn mang đến cảm giác thoải mái cho người mặc. Vải voan có thể chồng nhiều lớp tạo nên sự bay bổng, thoáng mát, thích hợp cho những thiết kế thướt tha, mộng mơ.
Tuy nhiên, vải voan rất mỏng nên khi mặc bạn cần có một lớp lót bên trong để tránh lộ những bộ phận nhạy cảm. Hãy cẩn thận vì có nhiều loại vải chiffon, tránh lựa chọn những loại giá rẻ kém chất lượng.

Nguồn ảnh: OLV boutique
Vải nhung là một loại vải sang trọng và cao cấp, được sử dụng chủ yếu cho các vẻ quý tộc và những dịp đặc biệt. Với một mặt làm bằng chất liệu trơn láng và mặt kia làm bằng nhung mềm mịn và mướt màng, vải nhung mang đến cảm giác tinh tế và đẳng cấp.
Ưu điểm của vải nhung là khả năng giữ ấm tốt, phù hợp cho việc may áo dài mùa đông. Vải có độ rủ cao, từng bước chuyển động của áo dài sẽ tạo nên vẻ mờ và rất sang trọng khi ánh sáng chiếu vào.
Nhược điểm của vải nhung là giá thành cao, đặc biệt những miếng vải nhung cao cấp có giá cực kỳ đắt đổ, vì vậy nhiều khi người ta sẽ sử dụng các loại vải nhung có pha thêm các sợi tổng hợp để giảm giá thành.

Một mặt hàng thời trang mang tính biểu tượng của Việt Nam, nón lá vừa thiết thực vừa thời trang. Được làm từ vật liệu tự nhiên như lá cọ, nó có khả năng chống nắng tuyệt vời.
Chiếc nón lá được đan từ nhiều loại lá khác nhau, điển hình như lá cọ, rơm, lá du quy diệp, lá hồ, lá buông, lá tre… và chủ yếu là được làm từ lá nón. Để cố định và giữ nón không bị rớt, nón có bỏ thêm quai đeo. Quai đeo chủ yếu làm bằng vải nhung, hoặc vải lụa để tạo cảm giác dễ chịu cho người sử dụng.
Nón có nhiều hình dạng khác nhau, nhưng hiện nay mọi người vẫn ưa chuộng loại nón có hình chóp nhiều hơn. Lá để dùng làm nón phải là loại lá không quá non, và không quá già. Lá mọc nhiều ở các vùng đồi thuộc các tỉnh ở Việt Bắc, hay dãy Trường Sơn, mọi người còn khai thác được nhiều nguyên liệu đặc biệt này tại vùng đồi của tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc.
Lá sau khi cắt về cần phải được xử lý theo quy trình, cần được sấy khô bằng than củi, sau đó phơi dưới hơi sương để lá được mềm hơn. Tiến hành là thẳng lá bằng cách bọc trong túi vải, tránh làm nhiệt độ tác động quá lớn. Lựa chọn những lá có kích thước tương tự nhau, cắt bỏ đi phần đầu và đuôi sao cho kích thước dài khoảng 50cm. Ngoài lá nón, các nguyên liệu cần thiết không thể thiếu để làm nón như tre, nứa, cước hay chỉ để may.
Tiếp theo cần phải có khung nón, khung nón được làm từ nứa khô và nứa dẻo. Thanh nứa cần phải được vót thật tròn và mịn, để làm được điều này, người thợ phải có kinh nghiệm lâu năm, khóe léo và phải thật tỉ mĩ. Các thanh nứa đươc uốn thành những vòng tròn có các đường kính khác nhau. Từ trên xuống dưới sẽ có 16 vòng, vòng nứa lớn nhất sẽ là 50cm, vòng trên đỉnh chóp chỉ có kích thước khoảng bằng hình đồng xu. Vành nón cần phải được làm đều, không bị méo mó hay xê lệch.
Những loại vải thủ công này do người dân tộc thiểu số làm ra, nổi tiếng với họa tiết độc đáo và ý nghĩa văn hóa.
Thổ cẩm là nét văn hóa của những người dân tộc thiểu số. Mỗi một dân tộc hay mỗi một vùng sẽ có những hoa văn riêng biệt. Thổ cẩm cũng là một trong những loại vải truyền thống mang ý nghĩa cực lớn với người dân Tây Nguyên. Chúng được dùng để may trang phục, các phụ kiện,...
Ngày nay, vải thổ cẩm được dùng phổ biến hơn. Cũng có những loại vải thổ cẩm được dệt bằng máy nhưng nét độc đáo của thổ cẩm truyền thống dân tộc vẫn chẳng thể nào mất đi.
Đặc trưng của các mảnh vải thổ cẩm là màu sắc đa dạng cùng họa tiết độc đáo. Đặc biệt hơn khi màu sắc của thổ cẩm không phải là phẩm màu hóa học mà lại là những thành phần từ tự nhiên. Để có những gam màu như trên, cần tìm được các loại cây hoặc hoa tương ứng. Ví dụ:




Tất nhiên rồi, là một trong những loại chất liệu dùng để may trang phục truyền thống của những người dân tộc. Đương nhiên ứng dụng lớn nhất của nó chính là trong ngành may mặc, thời trang.
Những bộ đồ làm từ vải thổ cẩm hoặc có họa tiết thổ cẩm được nhiều người yêu thích bởi sự độc đáo và cuốn hút. Bên cạnh đó, chất liệu thổ cẩm cũng rất thoải mái khi mặc, thấm mồ hôi do dệt chủ yếu từ những loại cây, sợi thiên nhiên. Cùng với đó là khả năng thân thiện với làn da nên càng được nhiều người chọn để may quần áo hơn.
Bên cạnh những trang phục như váy vóc thì thổ cẩm còn được sử dụng nhiều trong thiết kế và trang trí nội thất. Một chiếc khăn trải bàn họa tiết thổ cẩm, vỏ bọc sofa hay những chiếc ghế khác,...Chăn ga cũng không ít người dùng loại được làm từ vải thổ cẩm. Tuy nhiên do màu sắc của vải thổ cẩm thường nhiều và sặc sỡ nên họ chỉ dùng một phần nhỏ như điểm nhấn để trang trí. Chứ có ít người dùng cả cái ga giường vải thổ cẩm. Nhìn như vậy sẽ khá lòe loẹt và rối mắt.



Việt Nam nổi tiếng với lụa chất lượng cao, được sử dụng trong may mặc, phụ kiện và trang trí nội thất.
Trong lịch sử ngành hàng tơ lụa thế giới, Việt Nam tuy không phải là một “đế chế” trên con đường tơ lụa vĩ đại của nhân loại nhưng luôn được thế giới nhìn nhận như một quốc gia có lịch sử nghề tơ lụa lâu đời trải qua hàng nghìn năm. Nước ta ngày nay vẫn còn nhiều vùng trồng dâu nuôi tằm và dệt lụa nổi tiếng như Cổ Đô, Vạn Phúc (Hà Nội), Nha Xá (Hà Nam), Cổ Chất (Nam Định), Duy Duyên, Mã Châu (Quảng Nam), Tân Châu (An Giang)...
Theo thần tích của làng Cổ Đô, huyện Ba Vì (Hà Nội) cũng như nhiều tài liệu cổ khác, người Việt biết đến nghề trồng dâu nuôi tằm từ thời Hùng Vương, tức cách đây hơn 4.000 năm về trước. Từ tơ tằm, người Việt xưa đã biết dệt nên nhiều thứ lụa tốt khác nhau như: Trừu là lụa thô và to sợi; lượt là lụa thưa và trơn; sa là lụa mỏng và trơn; the là lụa nhẹ màu sáng; xuyến là lụa trơn dày hơn, màu sáng; nhiễu là lụa trơn, dày và bền; là là lụa dệt bằng tơ nõn với những đường sọc nhỏ đều nhau và nhuộm đen; lãnh là lụa trơn, dày và nhuộm đen; đoạn cũng là một loại lãnh nhưng chất lượng tốt hơn; vóc là lụa bóng mịn có dệt hoa; văn là loại lụa có dệt hoa lớn, dày, chất lượng cao hơn và gấm là lụa cao cấp nhất.
Tơ lụa Việt Nam từ xưa đã nổi tiếng óng mượt, mịn màng và bền đẹp không thua gì tơ lụa của Trung Hoa, Nhật Bản và các nước khác. Ví như ở miền Bắc, lụa Cổ Đô xưa được mệnh danh là “lụa cống”, tức là loại lụa thượng hạng dùng để cống nạp cho triều đình. Còn lụa Vạn Phúc trước đây từng được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo nhất xứ Đông Dương, nên vào các năm 1931 và 1932 từng được chọn đưa đi tham dự các cuộc đấu xảo (hội chợ) lớn ở Marseille và Paris (Pháp).





Thêu tay Việt Nam là minh chứng cho trình độ nghệ thuật cao của đất nước này, với những thiết kế phức tạp trên nhiều loại vải.
Tại Việt Nam, tương truyền rằng nghề thêu xuất hiện từ thời vua Hùng. Ông bà ta đã dùng chỉ, tơ, sợi nhuộm màu để thêu tỉa, trang trí trên nền vải. Cũng như các nước khác, người Việt xưa thường thêu các họa tiết cỏ cây, hình thể, hoa lá chim thú, cảnh sinh hoạt… trên khăn, túi, xiêm y, cờ trướng… Trong cuốn “Lịch sử Việt Nam” tập 1 đã mô tả trang phục của người Lạc Việt như sau: “Người Lạc Việt mặc áo chui đầu, áo cài khuy bên trái, những chàng trai có khăn khố đẹp, những cô gái có váy áo thêu…” Ngay từ thế kỷ thứ I, bên cạnh lá cờ thêu tay “Đền nợ nước, trả thù nhà” của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, phụ nữ Việt Nam còn biết dùng công việc thêu thùa để trang hoàng nhà cửa, hơn nữa là để bày tỏ tâm sự, tình cảm và để làm đẹp cho chính mình.
Tuy nhiên, người có công khởi tạo và truyền dạy nghề thêu cho người dân Quất Động Là Tiến sĩ Lê Công Hành, tên thật là Bùi Công Hành, là người làng Quất Động, sống ở cuối đời Trần, đầu đời Lê (khoảng thế kỷ 14). Cụ Lê Công Hành từng đi sứ, học được nghề thêu rồi trở về nước truyền dạy nghề thêu cho dân làng. Sau khi mất, ông Lê Công Hành đã được dân trong vùng lập đền thờ, tôn làm ông tổ nghề thêu. Hàng năm cứ vào ngày 12 tháng 6 âm lịch, là ngày giỗ cụ Lê Công Hành thì dân làng, các đoàn ở các tỉnh địa phương làm nghề thêu và của thành phố Hà Nội đều về đây dâng hương tưởng nhớ ông tổ nghề thêu. Từ thế kỷ 17, nghề thêu đã phát triển rộng ra khắp cả nước, do vậy ông tổ nghề thêu ở làng Quất Động cũng trở thành ông tổ nghề thêu chung của cả nước.


Những tác phẩm nghệ thuật dân gian sống động này được làm bằng kỹ thuật in khắc gỗ truyền thống.
Với sự phát triển của nghề in, khắc gỗ, việc sản xuất tranh trở nên phổ biến ở nhiều địa phương, dần dần hình thành những trung tâm sản xuất tranh khắc gỗ dân gian nổi tiếng như làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), Hàng Trống (Hà Nội), Kim Hoàng (Hà Tây cũ), làng Sình (Huế)… Một loạt hình nghệ thuật trường tồn cùng lịch sử dân tộc. Không trau chuốt, cầu kỳ nhưng tranh dân gian đặc biệt là tranh Đông Hồ luôn rực rỡ và đề cao đạo lý làm người, giáo dục những phẩm chất tốt, cầu mong những điều tốt đẹp. Tranh Đông Hồ là dòng tranh có lịch sử phát triển rất lâu đời. Theo các nguồn sử liệu và công trình nghiên cứu, nghề tranh dân gian đã xuất hiện ở làng Đông Hồ từ thế kỷ XVI. Gia phả dòng họ Nguyễn Đăng cho biết họ đã hành nghề ở đây được 20 đời, tức là khoảng trên dưới 500 năm.
Tranh dân gian Đông Hồ trong nhiều thế kỷ qua đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người dân, đi vào văn chương, thi ca, nhạc, họa, tạo nên nét bản sắc riêng của văn hóa Việt Nam, phản ánh sinh động cuộc sống bình dị của người nông dân nơi thôn dã, thể hiện đậm nét phong tục, tập quán, lễ hội, đình đám, văn hóa, con người Việt Nam. Mỗi một bức tranh lại mang thông điệp, ý nghĩa riêng. Tranh dân gian Đông Hồ đáp ứng được nhiều chức năng xã hội khác nhau, từ tín ngưỡng, tâm linh, lịch sử đến giáo dục, phản ánh phong tục, tập quán, đời sống sinh hoạt… Chẳng hạn, tranh thờ cúng






Những chiếc đèn lồng là một phần không thể thiếu trong văn hóa Việt Nam, đặc biệt là trong các lễ hội.
Tết Trung Thu là mùa của những chiếc lồng đèn kéo quân, đèn ông sao, đèn ông sư, đèn lon bia, bươm bướm. Những chiếc lồng đèn thô sơ được chuốt từ tre rồi dán giấy bóng kiếng lên, những đêm trăng của vùng quê lung linh trong những chiếc lồng đèn là hình ảnh Tết Trung thu truyền thống ở Việt Nam. Trung thu là thưởng trăng, ăn bánh, rước đèn vậy nên mới có những tên gọi khác như Tết trông Trăng, Tết hoa đăng, Tết Thiếu nhi. Trẻ em rất mong đợi được đón tết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, thường là đèn ông sao, đèn kéo quân, tò he






Gốm sứ Việt Nam nổi tiếng với thiết kế tinh xảo và nghề thủ công truyền thống.
Gốm sứ là một trong những chất liệu quen thuộc của người Việt Nam. Gốm sứ ngày càng được ưa chuộng nhiều hơn bởi nét đẹp sang trọng, tinh tế lại có tính đảm bảo cao về độ an toàn sức khỏe.
Trong lịch sử, nghề gốm ở Việt Nam đã phát triển từ rất sớm từ thế kỷ thứ 1 với những lò gốm cổ ở Tam Thọ (Thanh Hoá), Đại Lai, Luy Lâu, Đương Xá (Bắc Ninh), Thanh Lãng, Lũng Ngoại, Đồng Đậu (Vĩnh Phúc). Những thợ thủ công làm gốm thời kỳ này đã kết hợp được truyền thống gốm Đông Sơn với kỹ thuật sản xuất gốm tiên tiến đương thời của Trung Hoa để sản xuất ra dòng gốm mang sắc thái bản địa.

Từ cuối thế kỷ thứ 14, gốm men ngọc (“gốm thời Lý” thế kỷ 11-13)
Từ đàn tranh đến đàn bầu, những nhạc cụ này phản ánh di sản âm nhạc phong phú của Việt Nam.
Âm nhạc là một trong những món ăn tinh thần không thể thiếu với đời sống của người dân Việt. Trải qua suốt hành trình cuộc sống và chiều dài lịch sử, ngày nay Việt Nam còn lưu giữ nhiều nhạc cụ đủ loại từ những dạng đơn sơ nhất cho tới những dạng có sự phát triển khá cao với những kỹ thuật diễn tấu tinh tế. Từ Bắc vào Nam đều có những giai điệu âm nhạc riêng biệt tạo nên nét đặc trưng không thể nhầm lẫn về bản sắc của từng vùng kéo theo những nhạc cụ được sáng tạo có tính đặc trưng bản địa. Ngoài ra có những nhạc cụ được du nhập nhưng đã được dân tộc hóa, bản địa hóa cho phù hợp với thẩm mỹ âm nhạc Việt Nam. Hãy cùng tìm hiểu một số nhạc cụ truyền thống của Việt Nam nhé!
Đàn cò hay đàn nhị cấu tạo gồm năm phần: cần đàn, thùng đàn, thủ đàn, ngựa đàn và dây đàn. Đàn cò có âm vực rộng hơn 2 quãng tám, âm thanh trong sáng, rõ ràng, mềm mại gần với giọng hát cao (giọng kim). Đàn cò giữ vai trò chủ đạo trong Hát Xẩm, là thành viên trong nhạc phường bát âm, dàn nhã nhạc, ban nhạc chầu văn, tài tử và dàn nhạc tổng hợp.
.webp&w=3840&q=75)
Tuy nhiên, nhược điểm của vải lụa là việc sản xuất vẫn đang được thực hiện thủ công, vì vậy giá thành của nó khá cao. Bảo quản vải lụa cũng cần sự cẩn thận để tránh tác động xấu từ môi trường và côn trùng.
Nguồn ảnh: 21Six
Vải ren thu hút sự chú ý nhờ sự quyến rũ và mẫu hoa văn đa dạng. Tuy nhiên, vì những lỗ hổng trên vải, nên nếu bạn muốn sử dụng vải ren một cách kín đáo, hãy sử dụng thêm lớp lót.
Ưu điểm của vải ren là có nhiều mẫu hoa văn và hoạ tiết đa dạng, với đa dạng màu sắc giúp cho người sử dụng có thể lựa chọn và may mặc theo ý thích.
Tuy nhiên nếu không có lớp lót thì có thể lộ da thịt nhiều. Chất liệu mỏng manh và dễ bị rách, sứt chỉ nên cần cẩn trọng khi sử dụng.

Nguồn ảnh: Onon Made
Vải gấm là một loại vải với hoa văn đặc biệt và thu hút sự chú ý. Mỗi hoạ tiết trên vải gấm thể hiện sự đặc biệt riêng của chất liệu này, tạo nên vẻ quyến rũ cho người mặc.
Vải gấm là có giá thành rẻ hơn so với vải lụa. Nó có sẵn các hoạ tiết đẹp để bạn lựa chọn theo sở thích. Chất liệu của vải gấm cũng có mọt loại mỏng đến loại dày tùy thuộc vào sở thích và thời tiết.
Tuy nhiên, vải gấm sở hữu 1 nhược điểm chính là không nên sử dụng vào mùa hè nóng bức vì ít có khả năng thấm hút mồ hôi và thoáng khí. Hoa văn của vải gấm thường khá phức tạp nên khi mặc sẽ khiến trông trưởng thành hơn rất nhiều.

Nguồn ảnh: Thái Tuấn
Nhờ bề ngoài sáng bóng bắt mắt, vải phi bóng được rất nhiều người lựa chọn để may áo dài. Loại chất liệu này sở hữu tính nghệ thuật cao nên cực kỳ nổi bật khi nhìn vào hoặc chụp ảnh. Bên cạnh đó, vải phi bóng còn khó nhă, không bị nếp gấp mỗi khi giặt.
Tuy nhiên, loại vải này lại có khả năng thấm hút mồ hôi kém do được làm từ sợi polyester. Do đó, vào những ngày hè nắng nóng hay phải hoạt động nhiều, người mặc có thể thấy khó chịu.
Organza, hay còn được gọi là vải tơ sống, là một vật liệu vải được tạo thành từ sợi lụa và được bổ sung chất keo trong quá trình dệt. Cấu trúc dệt mật độ thưa của vải Organza tạo ra bề mặt mỏng manh, đem đến vẻ đẹp tinh tế và riêng biệt cho áo dài và các trang phục khác.
Một trong những ưu điểm nổi bật của vải Organza là tính thoáng mát. Cấu trúc thưa của nó cho phép hơi nước và mồ hôi thoát ra dễ dàng, giúp người mặc cảm giác thoải mái trong mọi hoàn cảnh.
Sự đa dạng về màu sắc cũng là điểm thu hút của vải Organza. Với một loạt các màu sắc khác nhau, nó thỏa mãn sự sáng tạo và phong cách riêng của từng người mặc, giúp áo dài trở nên độc đáo và ấn tượng.
Với cấu trúc vải mỏng nhẹ, Organza mang đến vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát và tinh tế. Đặc biệt, vải này thích hợp cho các bức hình chụp ảnh đẹp và ấn tượng, làm nổi bật vẻ đẹp tự nhiên của người mặc.
Tuy nhiên, cũng không thể bỏ qua một số hạn chế của vải Organza. Do tính mỏng nhẹ, nó có xu hướng dễ bị xước khi tiếp xúc với các vật nhọn, do đó, việc sử dụng và bảo quản cẩn thận là điều cần thiết để duy trì tính mới và đẹp của vải.
Một yếu tố khác cần lưu ý là cần sử dụng lớp lót bên trong khi làm áo dài hoặc các trang phục từ vải Organza. Lớp lót này không chỉ giúp tránh tình trạng xuyên thấu áo mỏng làm người đối diện cảm thấy không thoải mái mà còn đảm bảo sự thẩm mỹ và lịch sự của trang phục.
Như việc tạo một mái nhà hoàn chỉnh, sau khi khung nón đã được hình thành, việc tiếp theo người thợ cần làm chính là lợp nón lá. Phân bổ thật đều lá nón sao cho cân đối, không bị chồng lên nhau quá dày. Thông thường, mỗi chiếc nón sẽ bao gồm 2 lớp lá, ở giữa sẽ là lớp mo lang. Sau khi lớp lá đã được lợp hoàn chỉnh, chúng ta sẽ tiến hành khâu nón.
Khâu nón lá cần phải có kim và cước mỏng, và khi khâu người thợ cũng cần phải khéo léo để chóp nón không bị hở, mũi khâu yêu cầu phải ngắn, lỗ nhỏ thì chiếc nón mới tròn, khít, mịn từ mép lá đến đường khâu. Khi lá nón đã được may chắc chắn vào khung nón, người thợ sẽ quét một lớp dầu bóng để tăng độ bền và tính thẩm mỹ cho sản phẩm.

Khâu nón lá cần phải có kim và cước mỏng, và khi khâu người thợ cũng cần phải khéo léo để chóp nón không bị hở, mũi khâu yêu cầu phải ngắn, lỗ nhỏ thì chiếc nón mới tròn, khít, mịn từ mép lá đến đường khâu. Khi lá nón đã được may chắc chắn vào khung nón, người thợ sẽ quét một lớp dầu bóng để tăng độ bền và tính thẩm mỹ cho sản phẩm.
Quai nón được may đối xứng ở hai bên, quai nón có thể được làm từ vải nhung, hoặc từ những sợi chỉ màu sắc để giúp tạo sự nổi bật cho chiếc nón. Ngoài ra, chiếc nón lá còn được những đôi bàn tay khéo léo thêu thêm những hình ảnh đẹp, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Chiếc nón lá ra đời từ 2500 – 3000 năm trước công nguyên, hình ảnh đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, thạp đồng Đào Thịnh. Trước đây, để tìm kiếm một vật dụng giúp che mưa ché nắng, giúp chống chọi lại với sự khắc nghiệt của thời tiết, dân ta đã biết sử dụng những nguyên vật liệu thô sơ nhất, để từ đó kết nên một chiếc nón có vành rộng, phát huy được nhiều tác dụng hữu ích cho người nông dân.
Thời gian dài về sau, vì chiếc nón lá đã dần quen thuộc với đời sống sinh hoạt của nhân dân, nên chiếc nón lá được sử dụng phổ biến, và trở thành một vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày
Nón lá Việt Nam trải qua rất nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, ban đầu nón lá được kết hình tròn, tương tự như nón miền Bắc thời xưa. Tiếp đến là nón quai thao, và sau này là nón chóp (nón Huế). Nón chóp tạo được khối vững vàng, có chiều sâu, che mưa nắng tiện lợi, có tính thẩm mỹ cao, nên tạo được sự duyên dáng cho người sử dụng. Cũng chính vì lý do này, mà kết cấu của nón lá có hình dạng chóp như hiện tại.

Chiếc nón lá có giá trị vật chất rất lớn, mặc dù nón lá không phải là một vật dụng đắt tiền, nhưng chúng lại mang một vẻ đẹp đơn sơ và giản dị, như chính tâm hồn của con người Việt Nam. Với người nông dân, nón là vật dụng không thể thiếu, và được sử dụng hàng ngày giúp bà con che mưa che nắng.

Không những vậy, chiếc nón lá còn được các mẹ, các chị dùng để đi chợ, là một vật dụng thay thế cho chiếc quạt tay, giúp tạo ra những cơn gió mát khi nghỉ giải lao trên đồng ruộng. Với người phụ nữ Việt Nam, chiếc nón lá làm tôn lên vẻ kín đáo, dịu dàng khi kết hợp cùng tà áo dài thướt tha. Đây cũng chính là nét đặc trưng của nón lá mỗi khi được mọi người nhắc đến.

Nón lá còn là một món quà lưu niệm, mà ai cũng có thể mua để làm quà tặng đặc biệt cho người thân và bạn bè quốc tế. Không chỉ ở Việt Nam, chúng ta sẽ nhìn thấy chiếc nón lá xuất hiện ở rất nhiều nơi trên thế giới. Hầu như ai ai khi đã một lần sử dụng chiếc nón lá, đều muốn giữ lại bên mình như là một vật kỷ niệm quý giá.
Bên cạnh giá trị về vật chất, chiếc nón lá còn mang một giá trị lớn về tinh thần. Từ bao đời nay, chiếc nón lá Việt Nam được khắc họa và sống mãi theo bề dài lịch sử của đất nước. Nón lá được đi vào thơ ca, nhạc họa, được những thi sỹ, họa sỹ tô vẽ giúp cho biểu tượng ngày càng ghi đậm dấu ấn với con người Việt Nam. Không chỉ có thơ ca, chiếc nón lá cũng được họa sỹ đưa vào những bức tranh. Chiếc nón lá được kết hợp duyên dáng với áo dài, với cành hoa sen, với làng quê của đất nước. Tất cả rất đỗi quen thuộc, và khi chiêm ngưỡng những bức tranh đặc biệt này ở phương xa, chúng ta sẽ nhớ đến con người Việt, nhớ đến bản sắc văn hóa của Phương Đông.
Tác phẩm Chợ NHÔNG, Hoạ sĩ: Nguyễn Tiến Chung (1914 - 1976) (trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương khoá XI), Kích thước: 43 x 55cm.

Một số dân tộc có văn hóa dùng vải thổ cẩm ở nước ta như: Khmer, H’ Mông, Dao, H’rê, Bana, Mường và Thái....
Tùy từng dân tộc hay từng vùng mà sẽ có những cách dệt vải thổ cẩm khác nhau, nhưng chung quy lại thì cũng sẽ là những bước sau:
Ở miền Trung, thuở xưa nghề tơ lụa cũng phát triển rất mạnh, nhất là vùng Quảng Nam, vì nơi đây có thương cảng Hội An, một điểm dừng chân quan trọng trong hành trình giao thương của con đường tơ lụa trên biển. Vào thời kì hưng thịnh, tức khoảng từ thế kỉ 16 đến thế kỉ 19, Hội An là nơi có nhiều thuyền buôn của Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Xiêm (Thái Lan), Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp... đến giao thương mua bán, chủ yếu là mặt hàng gốm sứ và lụa tơ tằm. Trong “Phủ biên tạp lục”, nhà bác học Lê Quý Đôn viết rằng: “Người phủ Thăng, phủ Điện (tức phủ Thăng Hoa và phủ Điện Bàn của Quảng Nam - PV) dệt được các thứ the đoạn, lụa là hoa hòe tinh xảo chẳng kém gì Quảng Đông”. Năm 1631, nhà toán học, thiên văn học và là nhà truyền giáo người Italia Cristoforo Borri đã viết trong cuốn khảo cứu “Relation de la Nouvelle mission dis Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine (tạm dịch: Tường thuật về sứ mạng mới của các cha Dòng Tên tại Vương quốc Đàng Trong) của mình rằng: “Người Đàng Trong không những cung cấp tơ cho nhu cầu của họ mà còn cung ứng cho Nhật Bản và đưa sang Vương quốc Lào để từ đó người ta lại chuyển đến Tây Tạng, bởi lẽ loại tơ này tuy không nhỏ và mịn bằng loại tơ của Trung Hoa nhưng bền chắc”. Hoặc năm 1653, trong cuốn Divers voyages et missions (Các cuộc hành trình và truyền giáo), giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes cũng từng viết rằng: “Ở Đàng Trong... tơ lụa nhiều đến nỗi còn dùng để đan lưới và bện dây thuyền”...
Trải qua bao cuộc bể dâu, nghề ươm tơ dệt lụa của người Việt cũng trải qua nhiều bước thăng trầm. Tuy nhiên, điều đáng mừng là cái nghề vang bóng một thuở ấy nay vẫn còn được giữ gìn và phát triển ở một vài làng quê trên đất nước Việt Nam.
Ngày nay, nếu có dịp đến thăm những làng nghề tơ lụa truyền thống nổi tiếng của Việt Nam, du khách sẽ có cơ hội được khám phá lịch sử nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa có từ hàng nghìn năm của người Việt. Và ở đó, trong khung cảnh tuyệt đẹp của làng quê, du khách lại được nhìn thấy những hình ảnh mang đậm dấu ấn của nghề tằm tang vàng son một thuở với ruộng lúa, bờ dâu, cùng với tiếng lách cách thoi đưa và hình ảnh những người phụ nữ tảo tần với nghề hái dâu, chăn tằm, ươm tơ, dệt lụa...
Bảo Lộc - thủ phủ mới của nghề tơ tằm Việt Nam
Đến thăm Thôn 2, xã ĐamB’ri là vùng đất nổi tiếng về nghề trồng dâu nuôi tằm ở TP.Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Sẽ dễ dàng được trải nghiệm những cánh đồng dâu xanh rì bát ngát mênh mông trên vùng đất đỏ bazan màu mỡ, nhìn những người nông dân đang cố nhanh tay hái thêm mấy bao lá dâu non để kịp đem về cho đám tằm háu đói đang chờ ăn ở nhà. Nhìn những người phụ nữ nhỏ bé cặm cụi với đống lá dâu ngồn ngộn giữa nhà mới thấy, thời bây giờ máy móc, khoa học - kĩ thuật có thừa nhưng nghề trồng dâu nuôi tằm thì đời nào cũng phải bỏ công vất vả như nhau.

So với các làng nghề truyền thống, nghề trồng dâu nuôi tằm ở Bảo Lộc ra đời muộn hơn rất nhiều, vào khoảng những năm 70 của thế kỉ trước, nhưng lại phát triển rất mạnh, được ví là “thủ phủ” tơ tằm mới của Việt Nam, chiếm khoảng 70% giá trị sản lượng tơ tằm của cả nước. Ở đây, nghề tơ tằm phát triển quy mô lớn và gần như khép kín với tất cả các khâu từ trồng dâu, nuôi tằm, xe tơ, dệt lụa, nhuộm cho đến cả làm ra các loại sản phẩm hoàn hiện.
Nhờ điều kiện tự nhiên khí hậu, đất đai thuận lợi, Lâm Đồng là địa phương có diện tích trồng dâu và số lượng hộ nuôi tằm cũng như nhà máy xe tơ, dệt lụa lớn nhất cả nước. Hiện toàn tỉnh có 5.000ha dâu tằm, trong đó riêng Thành phố Bảo Lộc có khoảng 500ha với sản lượng lá dâu trung bình đạt khoảng 5.000 tấn/năm. Ngoài ra, Bảo Lộc còn có 23 doanh nghiệp lớn chuyên kinh doanh, sản xuất tơ và dệt lụa xuất khẩu. Sản phẩm tơ lụa Bảo Lộc rất đa dạng với hơn 20 chủng loại khác nhau, Ngoài tơ thô, tơ sống, có thể kể đến những dòng sản phẩm vải lụa cao cấp, thượng hạng như lụa satin dùng may trang phục kimono truyền thống Nhật Bản; lụa yozu dùng may khăn đội đầu ở các nước khối Ả Rập, Ấn Độ; vải lụa habuta, crepe de chine (CDC) dùng may âu phục cao cấp... Nhờ đó, tơ lụa Bảo Lộc được nhiều thương hiệu thời trang hàng đầu thế giới tin dùng và được xuất khẩu đến những cường quốc về tơ lụa.
Trải qua hàng trăm năm, sự cần cù, tỉ mỉ và chăm chỉ của người Việt đã khiến cho nghề thêu không chỉ phát triển mạnh ở nơi khai sinh ra nó mà còn tỏa đi khắp dải đất hình chữ S, nhưng nhiều nhất tập trung ở phía Bắc, đặc biệt là Hà Nội. Có thể nhắc đến những vùng quê phát triển mạnh nghề thêu như các làng: Quất Động, Thắng Lợi, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Phú Xuyên, Cổ Đông, Đông Cứu, Bình Lăng (Hà Nội); Văn Lâm (Ninh Bình), Minh Lãng (Thái Bình), Thanh Hà (Hà Nam), Kim Long, Thuận Lộc (Huế), Bảo Lộc (Lâm Đồng)…
Với chất liệu (chỉ, vải) ngày một phong phú, với ý thức sáng tạo nghệ thuật, người nghệ nhân đã dần biến tranh thêu vươn đến đỉnh cao của nghệ thuật. Để tạo được một bức tranh thêu tay hoàn mỹ, người nghệ nhân phải dùng đúng loại chỉ truyền thống được nhuộm từ màu của cỏ cây thiên nhiên. Đặc biệt là chỉ tơ tằm với độ óng mịn đặc trưng để tạo cho các bức tranh, nhất là tranh phong cảnh những màu sắc tự nhiên nhất. Người thêu tranh vừa phải có lòng đam mê vừa có năng khiếu về hội họa. Có như vậy, đường nét uyển chuyển và cái hồn của bức tranh mới được chuyển tải ở nhiều sắc độ.
Mặc dù nghề thêu lúc bấy giờ rất phát triển ở Quất Động nhưng để có thể nói đến sự chuyên nghiệp, đạt đến mức tinh xảo thì phải nhắc đến xứ Huế - đây được xem là nơi đánh dấu bước phát triển mới của nghề thêu. Khi triều Nguyễn xây dựng hoàng cung tại đây, bà Hoàng Thị Cúc – mẹ vua Bảo Đại cùng Nam Phương hoàng hậu đã kết hợp những tinh hoa của nghệ thuật thêu tay Việt Nam với kỹ thuật thêu của Châu Âu để nâng nghệ thuật thêu của cung đình lên đỉnh cao hơn, gắn với những nét thùy mị, tinh tế, tỉ mỉ của người con gái xứ Huế. Qua đó các trang phục lúc này được hoàn thiện hơn, từ sự oai nghiêm, hùng mãnh của rồng, sự duyên dáng, e ấp của các loài hoa đều thể hiện sắc nét trên trang phục. Một học giả người Pháp đã viết: “Người thợ thêu An Nam khéo léo hơn người thợ thêu Trung Quốc về đường kim mũi chỉ và cách pha màu sắc…”
Từ những bức tranh thêu đơn giản, khổ nhỏ về cảnh vật, cuộc sống hàng ngày, các nghệ nhân và người thợ lành nghề đã cần mẫn sáng tạo, học hỏi để phát triển lên, mỗi làng lại có một nét độc đáo riêng của mình như chuyên về thêu phong cảnh, thêu truyền thần hay chỉ chú trọng vào thêu trên trang phục, nhất là trang phục hoàng cung ngày xưa. Từ Bắc, Trung, Nam ở đâu cũng có những nghệ nhân giỏi, giàu sáng tạo và yêu nghề. Chính niềm yêu nghề, sự cần mẫn của những người nghệ nhân đã khiến cho tranh thêu tay ngày càng trở lên độc đáo, tinh xảo và phá cách hơn.
Ảnh: Bức tranh thêu tay: "Sớm Rừng Thu" - XQ Việt Nam
Không chỉ có những đặc điểm riêng biệt về đường nét và bố cục, nét dân gian của tranh Đông Hồ còn nằm ở màu sắc và chất liệu giấy in. Tranh Đông Hồ được in thủ công từ ván khắc gỗ, kết hợp với nét chữ, màu sắc và câu chuyện trong mỗi bức tranh tạo nên nét độc đáo của tranh Đông Hồ. Tranh được in bằng ván khắc theo lối thủ công, theo kiểu xấp ván chứ không phải ngửa ván như một số dòng tranh dân gian các nước.
Những nguyên liệu tạo nên hồn cốt của bức tranh đều tự nhiên. Tranh có bao nhiêu bản khắc gỗ thì tương ứng với số lượng bảng màu. Giấy in tranh Đông Hồ là giấy điệp. Là loại giấy dó (giấy được làm bằng vỏ cây dó) được phết lên một lớp điệp một màu trắng lấp lánh với ánh của những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng (điệp là bột được tán từ vỏ sò điệp ở biển) trộn với hồ dán (hồ dán được nấu từ bột gạo tẻ hoặc gạo sắn, cũng có khi nấu bằng bột sắn). Bột điệp tạo cho nền giấy một màu trắng sáng trong, lấp lánh, tôn màu khi in, có ưu điểm là nhẹ, mỏng, dai, dễ hút màu, chống được vi khuẩn, mối mọt và rất bền. Các màu trong tranh đều được làm từ nguyên liệu thiên nhiên như than lá tre, lá chàm, hoa hòe, hạt dành dành, gỗ vang, sỏi son..., tạo cho tranh Đông Hồ một phong cách riêng, khác lạ, mang đậm chất dân gian.
Việt Nam giờ đây dạo ngoài đường đa phần đều chỉ thấy những lồng đèn xinh xinh gắn điện xanh đỏ nhấp nháy. Thế nhưng nhiều người Việt Nam vẫn đi tìm kiểu lồng đèn truyền thống, đặc trưng nhất là các mẫu đèn ông sao, đèn hình thú.
Đèn ông sao là loại lồng đèn phổ biến nhất đối với người Việt Nam trong dịp rằm tháng Tám. Không khó để bắt gặp những chiếc lồng đèn đủ sắc màu với hình dáng ngôi sao năm cánh được bày bán ở hầu hết các cửa hàng. Hình ảnh ngôi sao năm cánh bao bọc bởi vòng tròn tượng trưng cho ngũ hành âm dương trong phong thủy. Vì thế, chiếc lồng đèn này tượng trưng cho sự cân bằng, hài hòa của các mối quan hệ trong đời sống, giữa người với người và giữa người với thiên nhiên vạn vật. Bên cạnh đó, đèn ông sao còn đại diện cho ngôi sao năm cánh trên quốc kỳ, vừa thể hiện ước muốn hòa bình của người Việt Nam.
Để tạo ra một chiếc đèn ông sao phải trải qua rất nhiều công đoạn tỉ mỉ. Vì được làm thủ công hoàn toàn nên người nghệ nhân phải thực sự cẩn thận và vô cùng khéo léo. Khác với đồ chơi ngoại nhập, nguyên liệu để làm nên đồ chơi Trung thu truyền thống chủ yếu bằng cây nứa và giấy màu. Tiêu chí lựa chọn nguyên liệu cũng phải đặt sự an toàn và thân thiện với môi trường lên hàng đầu, vì đa phần người tiếp xúc với những món đồ chơi đều là trẻ nhỏ. Ngay cả loại hồ dán giấy, cũng được tạo ra từ bột năng, không gây hại. Từng chi tiết trên chiếc đèn ông sao cỡ nhỏ, trung bình thời gian bà Tuyến làm thuần thục chỉ trong tầm nửa tiếng và với người bình thường sẽ là từ hai đến ba tiếng.
Xuất hiện từ hơn nửa thế kỉ trước, những chiếc đèn lồng cua/cá hóa long thường thấy vào các dịp Trung thu ở những thành phố lớn như Sài Gòn hay Hà Nội. Tuy nhiên, từ khi những chiếc đèn nhập ngoại tràn lan vào Việt Nam, số phận của các mẫu đèn lồng này dường như bị bỏ quên, thậm chí có giai đoạn bị thất truyền.
Nhưng nhờ vào sự tâm huyết của nhà nghiên cứu Trịnh Bách, cùng với đôi bàn tay khéo léo của nghệ nhân Trọng Bình, những mẫu đèn cua/cá hóa long này đã được phục dựng thành công. Những chiếc đèn lồng này không chỉ hướng đến một món đồ thủ công tinh xảo, mà nó còn lưu giữ hồn cốt của không khí Trung thu ngày xưa, tựa như một phần thiết yếu trong văn hóa Việt Nam.
Từ hình dáng cho tới màu sắc, mỗi chiếc đèn đều mang trong mình một vẻ đẹp cổ kính lâu đời. Và để có độ bền lên tới hàng năm, những chiếc đèn này đã được chế tác từ giấy nhiễu – một loại giấy bên trong trộn vụn tơ hay sợi vải để chịu nước. Sau khi hoàn thành, chúng sẽ được phủ một lớp dầu trẩu chống thấm nước. Tiếp đó là một lớp dầu bạch tùng giúp giấy trở nên trong suốt và bền bỉ theo thời gian.
Với những ai yêu thích và trân trọng các giá trị truyền thống, những chiếc đèn lồng cua/cá chép hóa long chính là một mảnh ghép tinh túy không thể thiếu khi hướng về nét văn hóa cổ xưa.
Nguồn ảnh: Facebook Trọng Bình Cổ Đăng
Cùng với những bước đi thăng trầm của đất nước, gốm Việt vẫn tồn tại và phát triển, đem lại rất nhiều tiện ích cho đời sống. Hãy cùng Quân Trà tìm hiểu những dòng gốm sứ nổi tiếng nhất Việt Nam hiện nay.
Gốm sứ Bát Tràng là một trong những dòng gốm sứ nổi tiếng tại Việt Nam, cả về danh tiếng lẫn truyền thống cho đến tận bây giờ.
Làng gốm Bát Tràng xuất hiện vào khoảng thế kỷ 15, ngay bên cạnh dòng sông Hồng phù sa. Lúc đó, Bát Tràng là một gò đất cao gần cạnh sông. Rất thuận tiện cho việc làm gốm và giao thông đi lại.
Trải qua nhiều biến cố, làng gốm xưa vẫn bám trụ vững chắc, ngày càng phát triển. Ngày nay, làng gốm Bát Tràng nằm tại xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Gốm Bát Tràng
Quyết tâm không để cơ ngơi tổ nghiệp bị dòng thời gian vùi lấp, những con người của làng gốm Bát Tràng đã không ngừng học hỏi và cho ra đời những dòng sản phẩm ngày càng phù hợp và đa dạng với nhu cầu của thị trường. Qua thời gian, gốm Bát Tràng vẫn giữ được những dòng men cổ. Công đoạn tạo dáng đều được làm bằng tay nên xương gốm khá dày, cứng cáp, cầm chắc tay. Lớp men đặc trưng thường ngả màu ngà, đục. Bên cạnh đó còn có một số dòng men riêng độc đáo chỉ có tại Bát Tràng như men xanh, men rạn.
Một mặt tập trung vào mảng chế tác phục hồi các vật phẩm cổ thời phong kiến, một mặt đẩy mạnh phát triển về cả chất lượng và kiểu dáng, không ngừng vươn xa và xuất khẩu sang các nước châu Âu, châu Á. Gốm sứ Bát Tràng hiện là thương hiệu và làng nghề truyền thống còn phát triển bền vững nhất hiện nay.
Đây là một trong số các làng nghề gốm sứ Việt Nam xuất hiện sớm nhất. Thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương. Gốm Chu Đậu ra đời vào thế kỷ 13 và phát triển mạnh từ thế kỷ 14 được coi là dòng gốm cổ cao cấp nhất Việt Nam. Nhưng đáng tiếc là vào thế kỷ 17, do chiến tranh loạn lạc mà làng gốm này đã bị suy tàn và thất truyền.
Cho đến năm 2001, gốm Chu Đậu được nỗ lực nghiên cứu và phục hồi lại kỹ thuật, chất men, kiểu dáng. Từ đó dần trở mình mạnh mẽ tiếp bút viết lại thời hoàng kim cho làng gốm Chu Đậu.
Chịu ảnh hưởng sâu sắc giá trị Phật giáo và Nho giáo, không khó để bắt gặp dấu ấn nhà Phật, bút tích của Lão Tử trong nghệ thuật gốm làng Chu Đậu. Có thể nói đây là điểm khác biệt của người làm gốm nơi đây so với nghệ nhân ở các làng gốm khác.

Gốm Chu Đậu – dòng gốm cổ cao cấp nhất Việt Nam
Gốm ở đây làm từ đất sét trắng vùng Trúc Thôn thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Để gốm đạt được độ trong thuần khiết, người thợ phải lấy đất sét đem đi hòa trong nước và lọc. Sau đó mới đến quy trình làm gốm.
Vì vậy, gốm làng Chu Đậu có chất men trắng rất trong. Hoa văn xanh lam nhờ sử dụng men trắng chàm. Hoa văn đỏ nâu, xanh lục vàng nhờ sử dụng men tam thái. Kiểu dáng và họa tiết của hoa văn được thể hiện qua nhiều hình thức như vẽ, khắc, họa, đắp nổi đều phóng khoáng, chân tình.
Làng gốm Phù Lãng thuộc huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình hình thành và phát triển cùng với làng Bát Tràng. Nhưng những sản phẩm của gốm Phù Lãng chủ yếu là đồ gia dụng làm từ đất sét đỏ và được tạo hình thủ công trên bàn xoay.

Gốm Phù Lãng
Gốm Phù Lãng là gốm men nâu, nâu đen, vàng nhạt, vàng thẫm… Dân gian hay gọi là men da lươn. Chính đặc điểm này giúp cho Phù Lãng khác biệt với các làng nghề gốm sứ Việt Nam khác.
Bên cạnh đó, cách thợ làm gốm cũng rất đặc trưng. Họ dùng phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm bong. Màu men tự nhiên, bền màu, độc đáo. Kiểu dáng mộc mạc, khỏe khoắn, rất đậm đà văn hóa bản địa.
Là một cái tên quen thuộc trong lòng người dân Việt Nam, “Gốm sứ Thanh Hà” không chỉ nổi tiếng về màu men đẹp mà còn bởi độ nhẹ của sản phẩm.
Sinh sau đẻ muộn so với Phù Lãng, với tuổi đời khoảng 500 năm, làng gốm Thanh Hà nằm tại Hội An vẫn nổi tiếng với các sản phẩm gốm đất nung bền đẹp.
Với nguyên liệu dân dã từ địa phương, người thợ lấy đất sét nâu dọc sông thu Bồn làm chất liệu chính. Loại đất sét nâu này có độ dẻo và kết dính cao.
ốm Thanh Hà
So với những mặt hàng tương tự đến từ các địa phương và thương hiệu khác, gốm sứ Thanh Hà cầm lên nhẹ nhàng khác hẳn. Điều đặc biệt của dòng sản phẩm này chính là được tạo thành từ loại đất sét nâu dọc sông Thu Bồn, mềm dẻo và kết dính cực cao. Làng nghề này thường chế tạo những vật dụng quen thuộc trong đời sống hằng ngày như chén bát, chậu cây,.. nên nhanh chóng trở thành sự lựa chọn quen thuộc của người tiêu dùng Việt Nam. Điều đặc biệt của dòng sản phẩm này chính là được tạo thành từ loại đất sét nâu dọc sông Thu Bồn, mềm dẻo và kết dính cực cao.
Hầu hết những sản phẩm của làng gốm Thanh Hà cho ra màu cam thẫm, nâu đỏ nhẹ và xương gốm xốp. Các sản phẩm được tạo bằng khuôn và trang trí khắc lộng.
Làng gốm Bàu Trúc là làng gốm sứ của người Chăm và thuộc loại cổ nhất trong khu vực Đông Nam Á. Gốm của người Chăm đã từng đạt tới thời kỳ đỉnh cao của văn hóa gốm. Không ít các di tích khai quật đã chứng minh điều đó.
Là thương hiệu mang phong cách độc quyền của xứ sở Champa, làng gốm Bầu Trúc vẫn không bị những xu hướng của thời đại làm mai một sắc màu truyền thống. Vẫn lựa chọn giữ lại những sắc màu truyền thống như vàng đỏ, đỏ hồng, vệt nâu,.. kết hợp với những kiểu hoa văn mang đậm sắc thái làng quê như cánh cò, cánh vạc, sông nước, gốm sứ Bầu Trúc là sự lựa chọn dành cho những con người yêu thích sự hoài cổ và thủ công tỉ mỉ. Gốm sứ Bầu Trúc được đánh giá rất cao về tính đơn giản, nhẹ nhàng và mộc mạc trong các mẫu thiết kế.

Gốm sứ Bàu Trúc
Gốm Bàu Trúc không phủ men và mang đậm văn hóa bản địa. Hoa văn chạm trổ là những đường khắc vạch sông nước, chấm vỏ sò, hoa văn móng tay mộc mạc, quen thuộc. Sản phẩm gốm có màu xương đất và không đồng đều. Vì trong quá trình nung lửa bị cháy táp nhiều. Bên cạnh đó, gốm Bàu Trúc không nung trong lò mà nung ngoài trời bởi củi và rơm từ 700 – 900 độ C.
Làng Gốm Lái Thiêu – Tân Phước Khánh – Thủ Dầu Một (Bình Dương) xuất hiện kế thừa tinh hoa của gốm Cây Mai vào cuối thế kỷ 19. Nhờ vào nguồn đất sét cao lanh và nguyên liệu củi đốt dồi dào sẵn có nên đã hình thành nên làng gốm sứ.
Tuy nhiên, ngày nay, Gốm Lái Thiêu đã không còn tồn tại. Thay vào đó là sự phát triển theo quy mô công nghiệp và xu hướng thị trường. Vậy nên, những dấu tích cũ của làng gốm Lái Thiêu hầu như không còn. Lúc gốm Lái Thiêu hưng thịnh, tất cả các sản phẩm đều được làm bằng tay và nung bằng lò củi truyền thống. Vết tích để lại chỉ cho biết gốm Lái Thiêu chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt thường ngày ở vùng Đông Nam Bộ.

Gốm Bình Dương
Được xem như là một cụm làng gốm, nhiều thương hiệu lớn đến từ các nước bạn cũng thi nhau xây dựng và đặt nhà máy tại Bình Dương, những làng gốm Lái Thiêu – Tân Phước Khánh – Thủ Dầu Một cũng đang dần dần khẳng định tên tuổi của mình. Với mục tiêu phục vụ cho người tiêu dùng trong nước, không ngừng nâng cao kỹ năng để tiến tới giấc mơ xuất khẩu sang nước ngoài, làng gốm Bình Dương đang dần chuyển mình mạnh mẽ, vừa giúp đất nước ngày càng phát triển, vừa không làm mai một những giá trị văn hóa truyền thống của ông cha xưa.
Có ý kiến cho rằng nghề gốm ở Biên Hòa có từ thời người Việt từ Thuận Quảng vào khai hoang lập nghiệp phương Nam và mang theo nghề truyền thống của quê hương để sản xuất phục vụ đời sống. Những dấu vết lò gốm của người dân Trung bộ thành lập còn thấy rõ ở rạch Lò Gốm ở cù lao Phố, còn được gọi là bến Miểng Sành. Lại có ý kiến cho rằng, nghề gốm ở Biên Hòa có từ thế kỷ XVII, khi dân cư Quảng Đông do Trần Thượng Xuyên dẫn đầu vào định cư ở cù lao Phố vào năm 1679.
Đến đầu thế kỷ 20 – khi Trường Dạy nghề Biên Hòa (hiện là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai) xuất hiện – gốm Đồng Nai mới thật sự ra đời. Đến năm 1923, khi ông Robert Balick (tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Trang trí Paris) làm Hiệu trưởng và vợ là bà Mariette Balick (tốt nghiệp Trường Gốm Limoges) làm phụ tá thì nhà trường chuyển sang đào tạo và dạy nghề làm gốm là chủ yếu.
Sản phẩm gốm của nhà trường ngày càng nổi tiếng cả trong – ngoài nước, được Chính phủ Pháp tặng huy chương khi tham dự Hội chợ Quốc tế Paris năm 1925 và định hình dòng gốm Biên Hòa, khác biệt so với các dòng gốm lâu đời khác như gốm Cây Mai, gốm Lái Thiêu…
Gốm Biên Hòa được làm từ cao lanh và đất sét màu. Những sản phẩm chủ yếu là chậu, voi, con thú hay tượng. Không như các làng gồm ở Đồng bằng Sông Hồng, làng gốm Biên Hòa nổi tiếng bởi nghệ thuật khắc chìm, vẽ men kết hợp với màu men tạo nên một sản phẩm độc đáo, tinh xảo.

Gốm Biên Hòa gây ấn tượng với màu sắc rực rỡ và hoa văn, họa tiết được khắc chìm mang nhiều ý nghĩa
Hơn nữa gốm Biên Hòa là loại xốp, có xương đất màu ngà. Thợ gốm không nung với nhiệt độ lớn như các làng nghề gốm sứ Việt Nam khác. Họ chỉ nung nhẹ trên lửa để màu gốm vẫn nguyên sơ như vẻ ban đầu. Cuối thế kỷ 18 khi cù lao Phố bị tàn phá, một số thợ gốm chạy về Chợ Lớn sản xuất gốm Cây Mai, một số qua Tân Vạn lập làng gốm Tân Vạn.
Gốm Cây Mai nổi lên ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn vào đầu thế kỷ 19. Đây là dòng gốm mỹ thuật do nghệ nhân người Hoa Chợ Lớn chế tác và phát triển cùng những thăm trầm của lịch sử cho đến ngày nay.
Căn cứ vào cội nguồn, giới nghiên cứu còn gọi gốm Cây Mai là gốm Sài Gòn nhằm phân biệt với các làng gốm Việt Nam khác. Làng gốm đa dạng sản phẩm và mang tính đặc trưng riêng.

Gốm Cây Mai
Chúng có sự kết hợp giữa các màu sắc nổi bật như: coban, xanh rêu, nâu da lươn. Mang đến sự tinh tế trong từng sản phẩm. Cho đến nay, gốm Cây Mai đã không còn tồn tại. Dù vậy bạn vẫn có thể bắt gặp chúng ở những bức tường ở một số chùa của quận 5, quận 6.
Làng gốm Mang Thít - Vĩnh Long nằm dọc bờ sông Cổ Chiên. Với hàng nghìn lò gạch, lò gốm chen chúc nhau như nấm sau mưa, nối dài hàng chục km. Những dòng phù sa tụ lại Vĩnh Long góp phần hình thành cho nơi đây những mỏ đất sét quý giá.
Không đi theo con đường gốm sứ với những dòng men sáng bóng sang trọng. Làng nghề gốm đỏ Vĩnh Long vẫn giữ nguyên nét truyền thống bao đời này của mình. Tập trung vào sản phẩm gốm giả cổ, gốm trang trí men, gốm nung đỏ, gốm Vĩnh Long được các nhà nghề và những người yêu màu sắc truyền thống lựa chọn.

Gốm đỏ Vĩnh Long
Tận dụng lợi thế địa phương, gốm Vĩnh Long có nguyên liệu chính là đất sét đỏ. Với đặc tính nhiễm phèn nên khi nung xong thì gốm Vĩnh Long thường xuất hiện các vân trắng. Ngoài ra, đất Vĩnh Long chỉ kết khối ở 900 độ C. Những đặc điểm này đã tạo nên nét rất riêng cho làng nghề nơi đây.
Sản phẩm chủ yếu của làng gốm là đồ gia dụng như chậu, chum, vãi, khạp. Nhằm mục đích phục vụ cho đời sống và một vài loại có giá trị xuất khẩu.
Cũng là một làng gốm theo phong cách Champa cổ, làng gốm Bình Định có quy mô tương đối lớn, nhiều sản phẩm đa dạng, mẫu mã tinh tế và chất lượng. Đồng thời, sản phẩm của Gốm Gò Sành được đánh giá cao ngang tầm với những sản phẩm gốm Champa được chế tác tại các xưởng gốm nổi tiếng của Trung Quốc và Thái Lan. Có thể nói rằng, việc khai quật nghiên cứu gốm Chăm được xem như thành tựu đáng ghi nhận của ngành khảo cổ học Việt Nam. Từ những thành tựu nghiên cứu này, gốm Gò Sành hay nói rộng ra gốm cổ Bình Định đã làm phong phú thêm những nhận thức về đồ gốm trên thế giới.

Gốm Gò Sành
Từ xưa đến nay, sáo trúc luôn gắn bó với đời sống văn hóa, tinh thần của người Việt Nam. Sáo trúc có thể độc tấu biểu diễn nhiều bài bản, phức tạp, cũng có thể hòa tấu cùng dàn nhạc cổ truyền, giao hưởng, nhạc nhẹ, thính phòng. Vật liệu để làm loại nhạc cụ này là trúc hoặc tre có đường kính khoảng 1.5cm và chiều dài 30cm. Thân ống được khoét một lỗ thổi có lưỡi gà, và có 6 hoặc 10 lỗ bấm. Sáo trúc có thể diễn đạt nhiều sắc thái cung bậc cảm xúc với âm vực rộng trên hai quãng tám.

Đàn bầu hay Độc huyền cầm có mặt phổ biến ở các dàn nhạc cổ truyền dân tộc Việt Nam. Đàn được chia làm hai loại là: đàn thân tre và đàn hộp gỗ. Đàn chỉ có một dây, có chiều dài chạy suốt thân đàn. Dây đàn được làm bằng tơ tằm, về sau thay bằng dây sắt, cần đàn ngày xưa được làm bằng tre, nay thường được thay thế bằng sừng trâu. Bầu đàn làm bằng vỏ quả bầu nậm khô hoặc gỗ tiện hình nậm bầu. Trục lên dây bằng tre hoặc gỗ, được đặt áp sát vào phía người chơi đàn. Que gẩy đàn được gót bằng giang hoặc song, có đầu nhọn và được làm bông lên. Chính đầu bông xơ này đã tạo cho tiếng đàn ấm hơn.

Cồng chiêng có mặt tại hầu hết các dân tộc Việt Nam, xuất hiện từ thời văn hóa đồng thau Đông Sơn. Cồng chiêng gắn với Tây Nguyên như một thứ không thể thiếu trong vòng đời mỗi con người, âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên là giá trị nghệ thuật đã được khẳng định trong đời sống văn hóa xã hội. Cồng chiêng được đúc bằng hợp kim đồng pha thiếc và chì. Loại có núm gọi là Cồng, không có núm gọi là Chiêng. Cồng, Chiêng càng to thì tiếng càng trầm, càng nhỏ thì tiếng càng cao.

Trong ảnh: Già Làng A Bliu, Làng Kon Trang Kép, xã Đắk La, Đắk Hà, Kon Tum cùng các cháu luyện tập cồng Chiêng chuẩn bị mừng lễ Nước Giọt của làng mình
Vừa là nhạc cụ, vừa là đạo cụ, cũng là phương tiện kết nối cộng đồng, chia sẻ tâm tư tình cảm, giúp chủ thể văn hóa thăng hoa với tinh thần lạc quan yêu đời. Khèn thuộc bộ hơi có cấu trúc khá phức tạp, gồm nhiều ống trúc xếp cạnh nhau. Một đầu cắm xuyên qua bầu đàn hình bắp chuối làm hộp cộng hưởng. Khèn bè có âm sắc mảnh và giòn, mỗi ống phát ra một âm sắc nhất định. Bên trong ống có lưỡi gà được làm bằng đồng hoặc bạc giát mỏng. Khèn bè là nhạc cụ đa thanh, âm vực rộng khoảng 1.5 quãng 8, có âm kéo dài.

T'rưng là loại nhạc cụ gõ phổ biến ở vùng Tây Nguyên, Việt Nam làm bằng một số ống tre lồ ô hay nứa ngộ có kích cỡ khác nhau. Trong dân gian, đàn chỉ có từ 5 - 7 ống lồ ô, cắt dài ngắn khác nhau. Đàn T'Rưng chuyên nghiệp thì có khoảng 12 - 16 ống xếp thành hàng trên giá đàn. Khi dùng dùi gõ vào các ống sẽ tạo thành âm thanh cao thấp khác nhau tùy độ to, nhỏ, dài, ngắn của ống. Những ống to và dài phát ra âm trầm, còn những ống nhỏ và ngắn có âm cao. Âm sắc của đàn t'rưng hơi đục, tiếng không vang to, vang xa nhưng khá đặc biệt.

Đàn đáy là nhạc cụ dân tộc cổ truyền của người Việt, không chỉ độc đáo ở hình dáng, âm thanh, mà còn được kết hợp với các nhạc cụ như phách và trống đế, tạo nên loại hình ca trù nổi tiếng. Đàn đáy có 3 dây, phần cán rất dài và mặt sau của thùng âm có một lỗ lớn, có 4 bộ phận chính: Bầu đàn, cần đàn, đầu đàn, dây đàn. Đàn đáy có âm vực rộng hơn 2 quãng tám, âm sắc ấm áp dịu ngọt và có thể diễn tả tình cảm sâu sắc.

Đàn đá là một nhạc cụ gõ cổ nhất của Việt Nam và là một trong những loại nhạc cụ cổ sơ nhất của loài người. Đàn được làm bằng các thanh đá với kích thước dài, ngắn, dày, mỏng khác nhau. Thanh đá dài, to, dày có âm vực trầm trong khi thanh đá ngắn, nhỏ, mỏng thì tiếng thanh. Những phiến đá vô tri, vô giác được chế tác thành nhạc cụ thật kỳ diệu. Từ những thanh đá ấy, tiếng của đại ngàn Tây Nguyên còn vang vọng đến ngày nay.

Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn
React với bài viết