Chi hội · Nov 26, 2024 · Đọc 5 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Nov 26, 2024 · Đọc 5 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Bản quyền là một khía cạnh quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam, được thiết kế để bảo vệ quyền tác giả và khuyến khích sự sáng tạo. Theo quy định, bản quyền bao gồm quyền nhân thân và quyền kinh tế, áp dụng cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, v.v. Hiểu về bản quyền giúp bảo vệ sự sáng tạo của cá nhân và ngăn ngừa vi phạm bản quyền. Nó cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngành công nghiệp sáng tạo và văn hóa.
Khoản 2 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: "Bản quyền là quyền của tổ chức và cá nhân đối với tác phẩm mà họ sáng tạo hoặc sở hữu."
Như vậy, bản quyền bao gồm các quyền cụ thể mà pháp luật trao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm để đặt tên cho tác phẩm, có tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm và được nêu tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm. Tên khi tác phẩm được xuất bản hoặc sử dụng; Sao chép, chuyển thể hoặc truyền tải, phổ biến tác phẩm đến công chúng bằng cách cho phép người khác tham gia vào quá trình khai thác tác phẩm.
- Thứ nhất, đối tượng của bản quyền luôn mang tính sáng tạo và được bảo hộ bất kể giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật.
- Thứ hai, bản quyền là bảo vệ hình thức thể hiện của tác phẩm.
- Thứ ba, hình thức xác lập quyền theo cơ chế bảo vệ tự động.
- Thứ tư, bản quyền không được bảo hộ tuyệt đối.
Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định: “Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản”.
Như vậy, có thể thấy rằng bản quyền bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
- Quyền đặt tên tác phẩm được quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ. Quyền này không áp dụng đối với tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.
- Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm quy định tại Khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao hợp lý để đáp ứng nhu cầu của công chúng tùy theo tính chất của tác phẩm, do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Công bố tác phẩm không bao gồm việc biểu diễn tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trình bày tác phẩm thị giác; công trình xây dựng từ tác phẩm kiến trúc.
- Quyền bảo vệ tính toàn vẹn của tác phẩm và không cho người khác chỉnh sửa, cắt xén tác phẩm quy định tại Khoản 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ là không cho người khác chỉnh sửa, cắt xén, sửa đổi tác phẩm; sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính trừ trường hợp được tác giả đồng ý.
- Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền biểu diễn hoặc cho phép người khác biểu diễn tác phẩm trực tiếp hoặc thông qua bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác mà công chúng có thể tiếp cận được. Biểu diễn tác phẩm trước công chúng bao gồm việc biểu diễn tác phẩm tại bất kỳ địa điểm nào mà công chúng có thể tiếp cận được.
- Quyền sao chép tác phẩm quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện, hình thức nào, kể cả sao chép dưới dạng điện tử.
- Quyền phân phối bản gốc, bản sao tác phẩm quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào, hình thức và phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được nhằm mục đích bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm.
- Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ là quyền theo Luật Sở hữu trí tuệ. Chủ sở hữu quyền tác giả có toàn quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc đưa tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm đến công chúng tại địa điểm và thời gian do mình lựa chọn.
- Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép chủ sở hữu quyền tác giả khác cho thuê để khai thác, sử dụng trong thời hạn có hạn.
- Quyền cho thuê chương trình máy tính không áp dụng trong trường hợp bản thân chương trình đó không phải là đối tượng cho thuê chính, chẳng hạn như chương trình máy tính liên quan đến hoạt động bình thường của xe cộ hoặc máy móc, thiết bị kỹ thuật khác.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn