Chi hội · Nov 19, 2024 · Đọc 12 phút
XÂY TỪ CÂU CHUYỆN NÀY
AI iGuide sẽ biến bài viết này thành lịch trình nháp để bạn chỉnh và đặt.
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Nov 19, 2024 · Đọc 12 phút
XÂY TỪ CÂU CHUYỆN NÀY
AI iGuide sẽ biến bài viết này thành lịch trình nháp để bạn chỉnh và đặt.
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

Lịch trình
Hành trình
Ngày
20
Phạm vi điều chỉnh của Luật này (Điều 1) quy định về các nguyên tắc, chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng; hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các cơ quan, tổ chức; giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh; quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
1. Đối tượng áp dụng (Điều 2) bao gồm:
Người tiêu dùng; Tổ chức, cá nhân kinh doanh; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tổ chức chính trị - xã hội; Tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi chung là tổ chức xã hội) tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
2. Những hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 10):
2.1. Nghiêm cấm tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện các hành vi sau đây:
Lừa dối, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng bằng cách cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, không chính xác về một trong các nội dung sau: sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân kinh doanh, cung ứng; uy tín, năng lực kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh; nội dung, đặc điểm giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh; hình ảnh, giấy tờ, văn bản xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ hoặc tổ chức, cá nhân kinh doanh; quấy rối người tiêu dùng thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp trái với ý muốn của người tiêu dùng để giới thiệu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc đề nghị kết hợp hợp đồng hoặc hành vi khác gây trở ngại đến công việc, sinh hoạt bình thường của người tiêu dùng; Ép buộc người tiêu dùng mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng thông qua việc sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác có tính chất tương tự; Ép buộc người tiêu dùng phải trả tiền cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được cung cấp mà không có thỏa thuận trước với người tiêu dùng; Không bồi thường, trả lại tiền hoặc đổi sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng do lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh; Không được bồi thường, trả lại tiền hoặc đổi sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng vì sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ không theo đúng đăng ký, thông báo, công bố, niêm yết, quảng cáo, giới thiệu, thỏa thuận, cam kết của tổ chức, cá nhân kinh doanh; Đánh tráo, gian lận sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khi giao, cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng; Không thông báo trước hoặc không công khai với người tiêu dùng, bảo trợ cho người có ảnh hưởng dưới bất kỳ hình thức nào để sử dụng hình ảnh, lời khuyên, khuyến nghị của người này nhằm thúc đẩy thương mại hoặc khuyến khích người tiêu dùng mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; Ngăn cản người tiêu dùng kiểm tra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Yêu cầu người tiêu dùng phải mua thêm sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như một điều kiện bắt buộc để giao kết hợp đồng trái với ý muốn của người tiêu dùng; Quy định về các điều khoản không được phép tại Điều 25 của Luật này trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung; Thu thập, lưu trữ, sử dụng, biên tập, cập nhật, hủy thông tin của người tiêu dùng trái pháp luật.
2.2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh đa cấp bị nghiêm cấm thực hiện các hành vi sau đây:
Yêu cầu người khác phải đặt cọc, nộp một khoản tiền hoặc mua một lượng hàng hóa nhất định để tham gia bán hàng đa cấp; Cung cấp thông tin sai sự thật, gây hiểu lầm cho người tiêu dùng, cá nhân tham gia bán hàng đa cấp; Kinh doanh đa cấp mà không có giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp; Tổ chức hoạt động giới thiệu hoạt động kinh doanh đa cấp mà không có giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp; Kinh doanh đa cấp đối với dịch vụ hoặc hình thức khác không phải là mua bán hàng hóa, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Thiết lập mạng lưới bán hàng đa cấp không dựa trên hoạt động mua bán hàng hóa; Thực hiện hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.
2.3. Tổ chức, cá nhân kinh doanh thành lập, vận hành, cung cấp dịch vụ nền tảng số bị nghiêm cấm thực hiện các hành vi sau:
Buộc hoặc ngăn cản người tiêu dùng đăng ký sử dụng hoặc sử dụng nền tảng trung gian số khác làm điều kiện bắt buộc để sử dụng dịch vụ; Hạn chế quyền lựa chọn của người tiêu dùng thông qua việc ưu tiên lựa chọn sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức kinh doanh, cá nhân cung cấp trên nền tảng số mà không công khai tiêu chí lựa chọn; Sử dụng biện pháp ngăn chặn việc hiển thị hoặc hiển thị không trung thực kết quả phản hồi, đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, trừ trường hợp phản hồi tiêu cực. Phản hồi, đánh giá đó vi phạm quy định của pháp luật, trái với đạo đức xã hội; Sử dụng biện pháp ngăn chặn việc đăng ký, vận hành, đánh giá, hiển thị phản hồi của các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Ngăn cản người tiêu dùng gỡ bỏ phần mềm, ứng dụng đã cài đặt sẵn mà không ảnh hưởng đến các tính năng kỹ thuật cơ bản giúp nền tảng số hoạt động bình thường hoặc buộc người tiêu dùng cài đặt phần mềm, ứng dụng đi kèm trên nền tảng số; Thực hiện hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.
Nghiêm cấm tổ chức, cá nhân lợi dụng việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Ngoài ra, Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều này.
2.4. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 6):
là trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội; Quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng được công nhận, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ theo quy định của pháp luật; Việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải được chủ động thực hiện kịp thời, công bằng, minh bạch, theo đúng pháp luật; Hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh và tổ chức, cá nhân khác; Bảo đảm công bằng, bình đẳng, không phân biệt giới tính, tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái với thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội trong giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh.
2.5. Đối với người tiêu dùng dễ bị tổn thương (Điều 8), Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định:
Người tiêu dùng dễ bị tổn thương là người tiêu dùng có khả năng chịu nhiều tác động bất lợi về khả năng tiếp cận thông tin, sức khỏe, tài sản, giải quyết tranh chấp tại thời điểm mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, bao gồm: Người cao tuổi theo quy định của pháp luật về người cao tuổi; Người khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật; Trẻ em theo quy định của pháp luật về trẻ em; Người dân tộc thiểu số; người đang sinh sống tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; Người mắc bệnh hiểm nghèo theo quy định của pháp luật; Người thuộc hộ nghèo theo quy định của pháp luật.
2.6. Việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng dễ bị tổn thương được thực hiện như sau:
Người tiêu dùng dễ bị tổn thương được bảo đảm quyền của người tiêu dùng theo quy định của Luật này và các quyền, chính sách ưu tiên theo các luật khác có liên quan; Tổ chức, cá nhân kinh doanh chủ động và chịu trách nhiệm duy nhất trong việc tổ chức thực hiện các quy định tại Khoản 3 Điều 8; Trường hợp người tiêu dùng dễ bị tổn thương yêu cầu được bảo vệ có chứng cứ, tài liệu chứng minh mình là người tiêu dùng dễ bị tổn thương và quyền của người tiêu dùng đó bị xâm phạm thì tổ chức, cá nhân kinh doanh phải ưu tiên tiếp nhận, xử lý, không chuyển yêu cầu của người tiêu dùng cho bên thứ ba để giải quyết, trừ trường hợp bên thứ ba đó có nghĩa vụ liên quan. Trường hợp từ chối giải quyết yêu cầu của người tiêu dùng dễ bị tổn thương thì tổ chức, cá nhân kinh doanh phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ căn cứ pháp lý, nội dung không phù hợp với nội dung chính sách đã công bố theo quy định tại Khoản 3 Điều 8; Tổ chức, cá nhân kinh doanh phải bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng dễ bị tổn thương theo quy định của pháp luật dân sự trong trường hợp chậm trễ, từ chối ưu tiên hoặc từ chối tiếp nhận, xử lý yêu cầu của người tiêu dùng theo quy định tại Điểm c Khoản này; Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội bảo đảm ưu tiên tiếp nhận, xử lý yêu cầu của người tiêu dùng dễ bị tổn thương và hướng dẫn họ. Người tiêu dùng dễ bị tổn thương cung cấp chứng cứ, tài liệu chứng minh quyền của mình bị xâm phạm; cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong quá trình tổ chức, thực hiện trách nhiệm quy định tại Khoản 3 Điều 8 theo thẩm quyền do pháp luật quy định.
2.7. Khi giao dịch với người tiêu dùng dễ bị tổn thương, tổ chức kinh doanh và cá nhân có trách nhiệm sau đây:
Bảo đảm thực hiện quyền của người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong quá trình mua bán sản phẩm, hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo quy định của pháp luật; Áp dụng cơ chế giải quyết khiếu nại, tranh chấp theo quy định của pháp luật phù hợp với từng đối tượng người tiêu dùng dễ bị tổn thương; Không được từ chối giải quyết yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng dễ bị tổn thương quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 8 do khác biệt về ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán; Ngăn ngừa kỳ thị, phân biệt đối xử, lợi dụng yếu tố dễ bị tổn thương để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng trong quá trình giao dịch; Xây dựng, ban hành trình tự, thủ tục, phương pháp, biện pháp phù hợp với từng đối tượng người tiêu dùng dễ bị tổn thương để bảo đảm quyền khiếu nại, yêu cầu giải quyết tranh chấp và các quyền khác của người tiêu dùng dễ bị tổn thương; Xây dựng, cập nhật, công bố cho người tiêu dùng dễ bị tổn thương các nội dung quy định tại Khoản này bằng hình thức niêm yết tại trụ sở chính, địa điểm kinh doanh hoặc đăng tải trên trang thông tin điện tử, phần mềm ứng dụng (nếu có) và đào tạo cho nhân viên của mình về các nội dung đó. Trách nhiệm quy định tại Điểm này không bắt buộc áp dụng đối với cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không vì mục đích thương mại. Phải đăng ký kinh doanh; doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp doanh nghiệp thực hiện các giao dịch quy định tại Chương III của Luật này; Trách nhiệm khác theo quy định của Luật này và pháp luật khác có liên quan./
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn