Chi hội · Dec 15, 2024 · Đọc 8 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Dec 15, 2024 · Đọc 8 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Bài viết này cung cấp thông tin chi tiết về các phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực xây dựng. Từ thương lượng, hòa giải đến trọng tài và tòa án, mỗi phương thức đều có ưu nhược điểm riêng. Hiểu rõ các phương thức này sẽ giúp bạn lựa chọn cách giải quyết phù hợp nhất cho từng tình huống, đảm bảo quyền lợi và duy trì mối quan hệ hợp tác tốt đẹp trong ngành xây dựng.
1. Thứ nhất là thương lượng
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp mà theo đó các bên tranh chấp sẽ cùng nhau tiếp xúc, tìm hiểu, dàn xếp, nhượng bộ để tháo gỡ những bất đồng phát sinh nhằm loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào. Phương thức giải quyết tranh chấp này được các bên ưu tiên trong giải quyết tranh chấp vì đơn giản, không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp. Phương thức này cũng tiết kiệm thời gian và chi phí giải quyết tranh chấp cho các bên. Đặc biệt, phương thức thương lượng cũng không làm tổn hại đến quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên cũng như giữ bí mật và uy tín kinh doanh. Tuy nhiên, thỏa thuận đạt được trong phương thức thương lượng không có tính cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên. Chính vì vậy, một bên không thiện chí có thể lợi dụng phương thức thương lượng để kéo dài, trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ. Điều này làm cho ưu điểm của phương thức thương lượng là tiết kiệm thời gian và chi phí lại không đạt được nếu một bên không tự nguyện thực hiện giải pháp đạt được trong thương lượng.
2. Thứ hai, giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải bởi Ban xử lý tranh chấp
Ban xử lý tranh chấp là một phương thức giải quyết tranh chấp đặc thù trong lĩnh vực xây dựng. Trong đó, Ban xử lý tranh chấp thực hiện nhiệm vụ rà soát, phát hiện để xử lý các mâu thuẫn, phòng ngừa chúng phát sinh thành tranh chấp và giải quyết các tranh chấp phát sinh ngay trong chính quá trình thực hiện hợp đồng xây dựng giữa các bên.
Căn cứ quy định của Luật Xây dựng hiện hành và Điều 45 Nghị định 37/2015/NĐ-CP thì giải quyết thông qua hòa giải bằng việc thành lập ban xử lý tranh chấp thực hiện như sau:
(1) Thành lập Ban xử lý tranh chấp: Ban xử lý tranh chấp có thể được nêu trong hợp đồng tại thời điểm ký kết hoặc được thiết lập khi có tranh chấp xảy ra. Số lượng thành viên do các bên tự thỏa thuận. Thành phần có thể gồm cơ quan, tổ chức hoặc một, một số cá nhân chuyên gia (tùy theo thỏa thuận của các bên)
(2) Thủ tục giải quyết: Trong thời hạn 28 ngày kể từ ngày các bên nhận được kết luận hòa giải của ban xử lý tranh chấp, nếu một bên không đồng ý kết luận hòa giải thì có quyền phản đối và các tranh chấp này sẽ được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án.
Về mặt chi phí: được tính trong giá hợp đồng xây dựng và do mỗi bên hợp đồng chịu một nửa, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Tuy nhiên trên thực tế tại Việt Nam, việc sử dụng Ban xử lý tranh chấp còn chưa thực sự phổ biến do pháp luật Việt Nam chưa có khung pháp lý rõ ràng cho phương thức này. Dẫn đến các bên trong hợp đồng chưa hiểu rõ về vai trò của Ban xử lý tranh chấp, hoặc nghi ngờ tính pháp lý của quyết định từ Ban xử lý tranh chấp và bỏ qua việc thành lập cơ chế giải quyết tranh chấp này, hoặc có mong muốn nhưng không thành lập được Ban xử lý tranh chấp do bên còn lại không hợp tác. Bên cạnh đó, việc tìm được thành viên Ban xử lý tranh chấp có chuyên môn và kinh nghiệm phù hợp gặp nhiều khó khăn và tốn nhiều thời gian, đồng thời chưa có quy định cụ thể về cách thức hoạt động của Ban xử lý tranh chấp và cơ chế thực thi quyết định của Ban xử lý tranh chấp theo pháp luật.
3. Thứ ba là giải quyết tranh chấp bằng con Trọng tài thương mại
Thẩm quyền của Trọng tài được quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010; theo đó Trọng tài thương mại được giải quyết các tranh chấp: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại (Khoản 1); Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại (Khoản 2); và Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài (Khoản 3).
Trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng xây dựng các bên có quyền thỏa thuận điều khoản Trọng tài trong hợp đồng xây dựng hoặc khi phát sinh tranh chấp các bên có thể lựa chọn Trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp. Trường hợp này, tranh chấp sẽ được giải quyết theo thủ tụng quy định trong Luật trọng tài thương mại 2010 và quy tắc tố tụng riêng của từng trung tâm trọng tài cụ thể.
4. Thứ tư là giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án
Trường hợp các bên không có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại bằng thương lượng, hòa giải hoặc Trọng tài thương mại thì các bên có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Thủ tục khởi kiện tại Tòa án gồm các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện
Hồ sơ khởi kiện bao gồm:
– Đơn khởi kiện theo mẫu; Nội dung đơn khởi kiện được quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
– Tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.
Bước 2: Nộp đơn khởi kiện
Đơn khởi kiện được nộp tại Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh (khi có yếu tố nước ngoài) nơi bị đơn cư trú, làm việc. Đơn khởi kiện có thể được nộp trực tiếp, thông qua dịch vụ bưu chính hoặc gửi bằng hình thức trực tuyến.
Bước 4: Tòa án thụ lý và giải quyết
Sau khi Tòa án nhận đơn và ghi vào sổ nhận đơn 03 ngày làm việc, Chánh án Tòa án phân công thẩm phán xem xét đơn. 05 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau:
– Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
– Tiến hành thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn;
– Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
– Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Nếu đủ điều kiện thụ lý, Tòa án thông báo cho người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi người khởi kiện nộp biên lai tạm ứng án phí, Tòa án tiến thành thủ tục thụ lý vụ án. Thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp thì có thể gia hạn thêm 02 tháng.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án tiến hành các hoạt động tố tụng trong đó có hòa giải và ra các quyết định theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong đó có quyết định đưa vụ án ra xét xử khi đủ điều kiện. Phiên tòa được mở trong vòng 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Lưu ý: Thời hiệu khởi kiện hợp đồng xây dựng.
Điều 45 Nghị định 37/2015/NĐ-CP quy định: “3. Thời hiệu khởi kiện theo thủ tục Trọng tài hoặc thời hiệu khởi kiện lên Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng được thực hiện theo quy định có liên quan của pháp luật.”
Về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015 quy định là 03 năm. Thời hiệu được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Việc tính thời hiệu chỉ được áp dụng khi có yêu cầu của một bên hoặc các bên. Yêu cầu này phải đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn
React với bài viết