Chi hội · Nov 26, 2024 · Đọc 7 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Nov 26, 2024 · Đọc 7 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Quản lý tài nguyên ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp. Khai thác quá mức và ô nhiễm môi trường đang làm suy giảm chất lượng và số lượng tài nguyên thiên nhiên. Biến đổi khí hậu cũng đặt ra những thách thức đáng kể, ảnh hưởng đến khả năng sử dụng và bảo vệ tài nguyên. Để giải quyết những vấn đề này, các chính sách quản lý hiệu quả, sự hợp tác giữa các cơ quan chính phủ và cộng đồng, và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên đối với phát triển bền vững là điều cần thiết.
Trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng phát triển, nhiều vấn đề thực tiễn đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với công tác quản lý tài nguyên.
Một là, Hiểu biết của chúng ta về tiềm năng, trữ lượng và giá trị của các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước vẫn còn hạn chế; thông tin và dữ liệu về các nguồn tài nguyên chưa đầy đủ, toàn diện, không nhất quán và chưa được chuẩn hóa.
Đất đai, nước, tài nguyên khoáng sản, hệ sinh thái, cảnh quan, vị thế tiềm năng... chưa được điều tra, đánh giá đầy đủ, toàn diện về tiềm năng, trữ lượng và giá trị. Địa chất khoáng sản chủ yếu được điều tra ở bề mặt hoặc độ sâu 100m trên 60% diện tích; Địa chất khoáng sản biển mới được điều tra ở những khu vực có độ sâu tới 100m. Hoạt động điều tra, thăm dò nguồn nước còn rất hạn chế, nhất là nguồn nước ngầm; Thông tin, số liệu về tài nguyên nước còn thiếu. Hầu hết các hệ sinh thái tự nhiên chưa được điều tra, đánh giá, kiểm kê định kỳ đầy đủ, toàn diện. Dữ liệu về rừng còn thiếu và không nhất quán. Thông tin, số liệu về tài nguyên nước chưa đủ độ tin cậy.
Công tác điều tra, đánh giá, định lượng giá trị kinh tế của tài nguyên chỉ mới được thử nghiệm ở một số nhóm, loại tài nguyên. Định giá tài nguyên chỉ mới triển khai ở một số nhóm tài nguyên, còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường. Việc xây dựng hệ thống tài khoản quốc gia về tài nguyên chưa được nghiên cứu, xây dựng. Tài nguyên thiên nhiên chưa được hạch toán đầy đủ trong nền kinh tế.
Thông tin, dữ liệu về tài nguyên chưa được chuẩn hóa, độ tin cậy chưa cao, chưa được quản lý thống nhất, gây nhiều khó khăn trong sử dụng. Thông tin, dữ liệu đầu vào chất lượng thấp dẫn đến đánh giá, dự báo chưa chính xác là một vấn đề lớn trong hoạch định chính sách quản lý tài nguyên nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung ở nước ta.
Thứ hai, Tài nguyên thiên nhiên chưa được cân đối và phân phối hợp lý, sát với yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; xung đột về mục tiêu, lợi ích trong khai thác, sử dụng, mất cân đối cung cầu tài nguyên thiên nhiên ngày càng gia tăng.
Dân số tăng nhanh, kinh tế phát triển mạnh mẽ, năng động, đa dạng, nhu cầu sử dụng không gian, mặt bằng, đất đai, nước, năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, vật liệu cho quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa. Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giao thông, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh sinh thái, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng lớn trong khi không gian, mặt bằng, nguồn lực tài chính ngày càng tăng. Nguồn lực có hạn, thậm chí giảm sút, đặt ra vấn đề cân đối, phân bổ nguồn lực trước những thách thức to lớn. Thực tế cho thấy công tác này chưa được thực hiện bài bản, thiếu chuẩn mực, còn nhiều lúng túng, bất cập, chưa tính đến lợi ích chung, sự hài hòa trước mắt và lâu dài, dẫn đến xung đột, thậm chí là mâu thuẫn giữa các ngành, lĩnh vực, các nhóm xã hội, giữa hiện tại và tương lai; có nơi đang cản trở sự phát triển, gây ra những hậu quả về sinh thái, môi trường. Trong khi đó, nhiều nơi đất đai, tài nguyên thiên nhiên không được sử dụng đúng mục đích, thậm chí không được sử dụng, gây lãng phí, thất thoát.
Thứ ba, Việc khai thác, sử dụng nhiều nhóm tài nguyên chưa hợp lý, kém hiệu quả, thiếu bền vững, dẫn đến lãng phí tài nguyên quốc gia, một số tài nguyên bị suy thoái, cạn kiệt.
Cường độ sử dụng tài nguyên (sử dụng tài nguyên để tạo ra 1 đơn vị GDP) vẫn ở mức cao. Tốc độ tăng năng suất tài nguyên có xu hướng chậm lại, một số loại tài nguyên có năng suất thấp so với mức trung bình của thế giới. Năng suất sử dụng đất của Việt Nam tăng theo thời gian và đạt mức sử dụng cao so với các nước trong khu vực (1), nhưng đã trì trệ và thậm chí đi ngang kể từ năm 2010 (2). Theo đánh giá của một số tổ chức quốc tế, Việt Nam nằm trong số các nước có năng suất nước thấp nhất thế giới (3).
Tài nguyên thiên nhiên vẫn bị sử dụng lãng phí, kém hiệu quả, hạn chế khả năng đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội. Đất đã được giao, cho thuê chậm được sử dụng; đất nông, lâm nghiệp sử dụng không hiệu quả; đất đai bị thoái hóa, sa mạc hóa ngày càng gia tăng. Khoáng sản vẫn bị khai thác manh mún, nhỏ lẻ, trái phép; xuất khẩu khoáng sản dưới dạng nguyên liệu thô; công nghệ khai thác, chế biến còn lạc hậu, chậm đổi mới... dẫn đến thất thoát, lãng phí nguồn tài nguyên quan trọng không tái tạo này. Tài nguyên nước chưa được khai thác toàn diện để phục vụ nhiều mục đích, hiệu quả sử dụng chưa cao; tình trạng thiếu nước theo mùa và cục bộ ở nhiều vùng vẫn còn nghiêm trọng. Diện tích rừng che phủ tăng, nhưng chất lượng rừng giảm, rừng tự nhiên bị suy thoái mạnh. Tài nguyên nước ngày càng suy giảm, năng suất và hiệu quả khai thác thấp. Do đó, tài nguyên chưa được khai thác hết tiềm năng, thế mạnh.
Bốn, Nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên chưa được sử dụng bền vững, lợi ích từ tài nguyên chưa được phân phối hợp lý, hài hòa; chưa quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ, tái tạo, phục hồi và phát triển nguồn tài nguyên tái tạo.
Cùng với việc kiểm soát các hoạt động khai thác để đảm bảo khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo trong giới hạn phục hồi và khả năng tái tạo, cần chú trọng bảo vệ, phục hồi, tái tạo để phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác này chưa được quan tâm đúng mức, chưa được đầu tư đúng mức, nên nhiều nguồn tài nguyên tái tạo của đất nước đang suy giảm về số lượng và chất lượng. Tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên nước đang ngày càng suy giảm, thậm chí suy giảm với tốc độ nhanh hơn. Một số nguồn tài nguyên tái tạo bị suy thoái, cạn kiệt quá mức, dẫn đến mất khả năng tái sinh, phục hồi.
Bài học về "lời nguyền tài nguyên" đang đánh thức các quốc gia có lợi thế về tài nguyên không tái tạo. Trữ lượng dầu mỏ, khí đốt, than đá và khoáng sản của quốc gia đang dần cạn kiệt và sẽ cạn kiệt trong tương lai gần. Nguồn thu từ tài nguyên không tái tạo chưa được sử dụng bền vững, lợi ích từ các nguồn tài nguyên này chưa được phân phối một cách hợp lý và hài hòa. Người dân ở những nơi khai thác tài nguyên thiên nhiên chưa được hưởng lợi một cách thỏa đáng và vẫn đang phải gánh chịu nhiều tác động tiêu cực do khai thác tài nguyên gây ra.
Việc đầu tư tìm kiếm, mở rộng hoạt động khoáng sản ở nước ngoài, khai thác tài nguyên tái tạo, nguyên liệu thô, nhiên liệu thay thế chưa được quan tâm đúng mức. Phần lớn chất thải chưa được tái chế, tái sinh, thu hồi để sử dụng nhằm giảm bớt một phần áp lực lên tài nguyên thiên nhiên.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn